TS NGUYỄN CÔNG TRÍ
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(TTKHCT) - Để thực hiện âm mưu chia cắt hai miền Nam - Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ đã dùng nhiều thủ đoạn nhằm phá hoại Hiệp định Genève, trong đó có việc “tôn giáo hóa chính trị”. Đây là âm mưu thâm độc nhằm phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, đánh giá việc thi hành chính sách tôn giáo của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và phong trào Phật giáo (1963). Trên cơ sở đó, khẳng định sự đúng đắn của những chính sách tôn giáo mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang thực hiện.

Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa đại lộ Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu - Cách Mạng Tháng 8, Quận 3, TP HCM) (Nguồn: thanhuytphcm.vn)

Trong âm mưu “diễn biến hòa bình”, tôn giáo là một trong những mũi nhọn được các thế lực thù địch lựa chọn để công khai chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chiêu bài “tôn giáo hóa chính trị” không mới, tuy nhiên để có cơ sở cho việc đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, chúng ta cần có cái nhìn bao quát, sâu sắc về vấn đề này.

1. Âm mưu của Mỹ và chính sách tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm

Sau Hiệp định Genève (1954), với âm mưu chia cắt lâu dài hai miền Nam - Bắc Việt Nam, Mỹ hất cẳng Pháp xâm chiếm miền Nam Việt Nam. Chúng dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và tìm mọi cách để phá hoại Hiệp định Genève.

Trước tiên, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã sử dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm vừa dụ dỗ, vừa đe dọa, cưỡng bức đồng bào công giáo di cư từ Bắc vào Nam nhằm phục vụ cho mưu đồ “Tôn giáo hóa chính trị”. Theo đó, trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1956, đã có khoảng 800.000 người Công giáo, khoảng 2/3 dân số người Công giáo miền Bắc lúc bấy giờ di cư vào Nam1, số linh mục, giám mục di cư là 809 chiếm 72%2. Mục đích của chúng là dựa vào lực lượng Công giáo mà cốt lõi là Đảng Cần Lao - Nhân vị (Đảng Cần Lao)3 làm cơ sở đối trọng với Đảng Lao động Việt Nam và là công cụ để chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thiết lập sự thống trị dưới hình thức gia đình trị. Bởi vì đứng đầu Đảng Cần Lao là các thành viên trong gia đình Ngô Đình Diệm. “Đảng Cần Lao trên thực tế được chia làm ba vùng: Ngô Đình Cẩn, một kẻ ít học nhưng khét tiếng chống Cộng tự coi mình là lãnh tụ tổ chức Đảng Cần Lao tại miền Trung. Đảng Cần Lao tại Sài Gòn và những nơi có dân Công giáo di cư miền cao nguyên được coi là Đảng Cần Lao Ngô Đình Nhu. Còn một Đảng Cần Lao nữa tại vùng địa hạt Vĩnh Long đó là Đảng Cần Lao Ngô Đình Thục”4.

Sau khi thiết lập tổ chức chính trị và lực lượng quần chúng là giáo dân và chức sắc Công giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thi hành nhiều chính sách có lợi cho đạo Công giáo, phân biệt đối xử với các tôn giáo khác5 và coi các tôn giáo ngoài Công giáo là những hiệp hội, trong đó có Chỉ thị số 10 của Phủ Tổng thống. Thực chất Chỉ thị này lấy lại Đạo dụ của chế độ thuộc địa do “cựu hoàng đế” Bảo Đại ký với Pháp ngày 06/08/1950. Khi Ngô Đình Diệm truất phế “cựu hoàng đế” Bảo Đại, xé bỏ nhiều giấy tờ, đạo dụ, sắc chế, cáo biểu dưới khẩu hiệu là “bài phong, phản đế” nhưng không xé bỏ Đạo dụ số 10 có lợi cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Chỉ thị số 10 quy định: “Tất cả các hiệp hội tôn giáo, văn hóa, thể dục, chỉ trừ Công giáo, không được quyền mua các bất động sản nếu không có phép riêng của Phủ Tổng thống”6.

Liên quan đến tổ chức bộ máy của chính quyền Sài Gòn thời kỳ này, tỷ lệ người Công giáo đứng đầu các tổ chức và chính quyền địa phương là khá lớn so với dân số là tín đồ Công giáo. “Trong một miền Nam chỉ có 10% là Công giáo, mà tại Quốc hội có tới 30% dân biểu Công giáo, với 3 vị chủ tịch Quốc hội liên tiếp là Công giáo; trong bộ máy hành chính, có 9 trên 14 tỉnh trưởng miền Trung và 14 trên 18 tỉnh trưởng miền Nam là Công giáo, trong Chính phủ thì 4 trong số 12 Bộ trưởng là Công giáo và trong quân đội ba trong số 16 tướng lĩnh là Công giáo”7.

Không những thế, chính quyền Ngô Đình Diệm còn thành lập trường đào tạo duy nhất là “Trung tâm đào tạo nhân vị” (do Ngô Đình Thục sáng lập) để đào tạo lực lượng công chức trong bộ máy hành chính. Dù “Là Công giáo hay không, tất cả công chức đều phải qua một khóa học tập ít nhất là một tháng tại đó. Các lớp học đều do các linh mục đảm nhiệm, nhồi nhét những khái niệm về nhân bản con người được Thiên Chúa sáng tạo, giảng về những điều lầm lạc của Phật giáo, Khổng giáo, về các tội ác của Cộng sản… Cuộc “tẩy não” này do chính các linh mục thực hiện. Họ là những người chỉ biết có triết học kinh viện Tây Âu và “đã tiếp thu tại Rôma các khái niệm về Phật giáo do các cố cựu Thừa sai dạy cho” (Lời thú nhận của Giám mục Thục)”8.

Dưới sự cai trị của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, đạo Công giáo được khoác thêm “chiếc áo quyền lực” không chỉ trong đời sống chính trị mà trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ thành thị đến nông thôn. Liên quan đến vấn đề này, Linh mục Trần Tam Tỉnh nhận xét: “Từ năm 1955 đến năm 1963 là thời vàng son của chủ nghĩa cha chú, với những lợi ích thật chẳng có bao nhiêu, nhưng với những hà lạm gây nhiều tiếng tăm hơn, nhất là trong khi dân chúng gồm 90% là ngoài Công giáo mà bị kìm hãm dưới một thứ “Chính phủ Công giáo”. Khắp nơi, ở thành phố cũng như tại nông thôn chiếc áo chùng thâm là biểu tượng của quyền thế”9.

Như vậy, dưới sự giật dây của Mỹ, việc thi hành các chính sách lấy đạo Công giáo làm trung tâm đã giúp chính quyền Ngô Đình Diệm đạt được mưu đồ “Tôn giáo hóa chính trị”, phá hoại Hiệp định Genève. Từ đó tạo tiền đề cho việc Mỹ trực tiếp đưa quân xâm lược Việt Nam sau này. Tuy nhiên, việc phân biệt đối xử với các học thuyết xã hội, tôn giáo khác đã nhen nhóm sự bất ổn về mặt xã hội, gây ra nhiều mâu thuẫn và thúc đẩy sự phản kháng của các tổ chức xã hội, tôn giáo, tầng lớp nhân dân đối với chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.

2. Phong trào Phật giáo năm 1963

Dựa vào lực lượng Công giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện nhiều hành động vừa lôi kéo, vừa cô lập và phân biệt đối xử với các tôn giáo khác, nhất là đối với Phật giáo. Theo một nghiên cứu cho biết, “Đến thời Ngô Đình Diệm (1955-1963), trong bảng nghi lễ của các học đường vẫn không có lễ Phật đản là đương nhiên, nhưng lễ Noen lại được nghỉ đến 15 ngày”10. Sự việc đẩy lên đỉnh điểm khi chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Công điện số 9195 ngày 6/5/1963 ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Đại lễ Phật đản năm 1963.

Để phản đối Công điện 9195, ngày 07/5/1963 quần chúng Phật tử bao vây Tỉnh tòa Thừa Thiên. Ngày 08/5/1963, một cuộc biểu tình lớn dưới hình thức “rước Phật” của Phật tử Huế với các khẩu hiệu đòi “tự do tín ngưỡng”, “chống phân biệt đối xử tôn giáo”, đoàn biểu tình bao vây Đài phát thanh Huế đòi chính quyền Ngô Đình Diệm giải quyết các yêu sách của mình. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã huy động xe tăng và binh lính đàn áp đoàn biểu tình làm tám người thiệt mạng và nhiều người bị thương. Ngày 10/5/1963, Tăng Ni, Phật tử tại chùa Từ Đàm ra tuyên ngôn đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thực thi chính sách bình đẳng tôn giáo với năm nguyện vọng: yêu cầu Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thu hồi vĩnh viễn công điện cấm treo cờ tôn giáo nơi công cộng; yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa giáo đã được ghi trong Đạo dụ số 10; yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo; yêu cầu cho Tăng Ni, Phật tử được tự do truyền đạo và hành đạo; yêu cầu chính phủ bồi thường thích đáng cho những người chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải bị xét xử11. Ngày 25/5/1963, Ban Trị sự Trung ương Tổng hội Phật giáo Việt Nam đứng ra thành lập ra Uỷ ban liên phái bảo vệ Phật giáo và đã gửi ba công điện: Công điện gửi cộng đồng Phật giáo thế giới, kêu gọi can thiệp chính phủ Việt Nam Cộng hòa cho phép treo cờ Phật giáo trong ngày Đại lễ Phật đản; Công điện gửi chính quyền Ngô Đình Diệm yêu cầu thu hồi công điện 9195; Công điện gửi các hội đoàn Phật giáo Việt Nam thống nhất hành động vì dân tộc và Phật giáo.

Các nguyện vọng của giới Tăng Ni, Phật tử không những không được chính quyền Ngô Đình Diệm đáp ứng mà còn bị đàn áp đẫm máu bằng vũ trang. Hành động của chính quyền Ngô Đình Diệm dấy lên một sự căm phẫn không chỉ trong giới Phật giáo mà lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội dẫn đến nhiều phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Điển hình là các phong trào: phong trào đấu tranh của hàng trăm nhà sư cùng với đông đảo sinh viên ngày 30/5/1963 tại Sài Gòn dưới hình thức biểu tình, tuyệt thực lên án chính quyền chính Ngô Đình Diệm đàn áp tôn giáo; phong trào đấu tranh của sinh viên Huế ngày 03/6/1963 phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tôn giáo. Ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn, sự kiện này biểu thị cao nhất về sự căm phẫn đối với chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng thời tạo ra một làn sóng ủng hộ phong trào đấu tranh của giới Phật giáo trong và ngoài nước; phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn ngày 16/6/1963 phản đối chính sách của Ngô Đình Diệm và các hành vi đàn áp đối với giới Tăng Ni, Phật tử…Các phong trào đấu tranh của giới Phật giáo và các tầng lớp nhân dân, nhất là hành động tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức và một số Tăng, Ni đã tác động mạnh mẽ tới dư luận trong và ngoài nước, trong đó, có sự phản đối chính sách của Ngô Đình Diệm từ chính quyền Mỹ. Kết quả của các phong trào này dẫn đến cuộc đảo chính lật đổ chính quyền gia đình trị Ngô Đình Diệm ngày 01/11/1963.

Đến nay, phong trào Phật giáo năm 1963 vừa tròn 60 năm, khi nghiên cứu về sự kiện lịch sử này có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng dưới góc nhìn tôn giáo, người nghiên cứu cho rằng, bản chất của phong trào này là sự nối tiếp phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam diễn ra từ đầu thế kỷ thứ XX, với mục đích cao nhất là đòi hỏi những quyền lợi chính đáng liên quan đến vấn đề bình đẳng tôn giáo, quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, đặt vào bối cảnh lịch sử thời kỳ này, phong trào Phật giáo năm 1963 đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phong trào cách mạng ở Việt Nam trong tiến trình giành độc lập và thống nhất đất nước. Ở khía cạnh này, tác giả thống nhất với nhận định: “Phong trào Phật giáo 1963 vì vậy có tính dân tộc, dân chủ, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, mục tiêu chung của dân tộc và cách mạng ở miền Nam Việt Nam”12. Do vậy, phong trào Phật giáo năm 1963 trở thành bài học có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy chính sách bình đẳng, tôn trọng quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam không chỉ trong lịch sử mà cả ở hiện tại.

3. Về thực hiện chính sách bình đẳng, tôn trọng quyền tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Chính sách tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay đều thống nhất khẳng định quyền bình đẳng và tự do tôn giáo. Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định: Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo. Quy định này được bổ sung và phát triển qua các bản Hiến pháp 1959, 1980. Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, vấn đề bình đẳng tôn giáo, quyền tự do tôn giáo được nhấn mạnh thêm một bước. Điều 70, Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: “Công dân có quyền tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”13. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 khẳng định quyền tự do tôn giáo là một bộ phận của quyền con người, theo đó “1) Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2) Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3) Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”14.

Cụ thể hóa thực hiện Hiến pháp năm 2013, Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18/11/2016 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo là kết quả của quá trình thể chế hóa Hiến pháp về quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Trong Luật, vấn đề bình đẳng tôn giáo và quyền tự do tôn giáo được đề cập chi tiết với nhiều nội dung khác nhau. Liên quan đến vấn đề bình đẳng tôn giáo đáng chú ý có các điều khoản như: khoản 1, điều 3, chương 1 quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với tôn giáo, trong đó có trách nhiệm bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; trong các hành vi bị nghiêm cấm, khoản 1, điều 5, chương 1 quy định: cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

Trên cơ sở Hiến định, Luật tín ngưỡng, tôn giáo giành nguyên một chương (Chương II) nhằm cụ thể hóa nhiều nội dung về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với tư cách là quyền của tất cả mọi người. Đáng chú ý, lần đầu tiên trong lịch sử Luật đưa ra các quy định cụ thể đối với đối tượng bị tạm giam, tạm giữ, điều 6 khoản 5 ghi rõ: “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo”15. Quy định này thể hiện tính toàn diện về quyền con người trong cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam nói chung và Luật tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng. Theo đó, tại Điều 6 và Điều 8, Nhà nước bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đối với mọi người ngay cả đối với những người bị tước quyền công dân. Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng hiện nay, một bộ phận rất lớn người nước ngoài vào Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau, Nhà nước đưa ra nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đối tượng này nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra16.

Như vậy, về mặt lý luận, chính sách bình đẳng, tự do tôn giáo ở Việt Nam kể từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945) đến nay là thống nhất và từng bước được bổ sung, phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người và thực tiễn hoạt động tôn giáo ở Việt Nam. Trong đó, đáng chú ý “quyền tự do tôn giáo” trước đây thuộc nhóm quyền công dân thì hiện nay thuộc quyền con người. Đương nhiên, với tư cách là một khía cạnh đặc biệt của quyền con người, quyền tự do tôn giáo không phải là tuyệt đối mà nó bị giới hạn bởi luật pháp của mỗi quốc gia khi quyền đó vi phạm tới lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền tự do của người khác. Điều này hoàn toàn hợp lý, hợp pháp, hợp hiến và tuân thủ quy định của các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc là thành viên.

Về thực tiễn, đến nay, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau với 26.548.509 tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, trong đó có 58.104 chức sắc, 148.046 chức việc, 29.801 cơ sở thờ tự. Trải qua các giai đoạn lịch sử, về cơ bản, các tôn giáo đều gắn bó và đồng hành cùng dân tộc và góp phần vào sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay về tôn giáo, tín ngưỡng là cơ sở để các tổ chức tôn giáo ngày càng có điều kiện để phát triển và đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Theo thời gian, các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã xây dựng, duy trì đường hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, như: Công giáo với đường hướng “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; Phật giáo với đường hướng “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”; các tổ chức Tin Lành với đường hướng “Sống Phúc âm, Phụng sự Thiên chúa, Phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; các hệ phái Cao Đài Tiên Thiên với đường hướng “Nước vinh, Đạo sáng”; Phật giáo Hòa Hảo với đường hướng “Vì Đạo pháp, vì Dân tộc”; Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam với đường hướng “Tu học, hành thiện, ích nước, lợi dân”; Hồi giáo với đường hướng “Lẽ sống tốt đạo, đẹp đời”; Tứ Ân Hiếu Nghĩa với đường hướng “Hành Tứ Ân - Sống Hiếu nghĩa - Vì đại đoàn kết dân tộc

Trên cở sở đường hướng hành đạo của các tôn giáo, Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện để các tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; tổ chức các sinh hoạt tôn giáo một cách bình thường trên cơ sở pháp luật, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng và quyền tự do không tôn giáo, tín ngưỡng của mọi người. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, không phân biệt về số lượng tín đồ, sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội đều bình đẳng như nhau trước pháp luật. Ngoài các hoạt động tôn giáo như: đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận về tổ chức; in ấn, xuất bản kinh sách, các ấn phẩm tôn giáo, thành lập các tạp chí, Website, trang thông tin điện tử phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo; xây dựng, sửa chữa, trùng tu các cơ sở tôn giáo; tổ chức các hoạt động ngoại giao về tôn giáo… Nhà nước tạo mọi điều kiện để các tổ chức tôn giáo tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, điều kiện của các tổ chức tôn giáo và trên thực tế, các tổ chức tôn giáo ngày càng tham gia tích cực, có hiệu quả vào các hoạt động xã hội, nhất là các hoạt động an sinh xã hội và từ thiện xã hội. Các hoạt động này góp phần quan trọng cùng với Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình phát triển đất nước. Qua các hoạt động này, các tôn giáo đã và đang trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Như vậy, tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tôn giáo của mọi người, của các tổ chức, chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo là quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng không ngừng chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện để các chính sách tôn giáo phù hợp với luật pháp quốc tế và không đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Song, hiện nay vẫn tồn tại một bộ phận cực đoan lợi dụng quyền tự do tôn giáo để vu khống, xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước. Thậm chí, một số tổ chức, chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan vẫn thực hiện các sinh hoạt tôn giáo trái với pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước. Những hành vi này gây ảnh hưởng đến uy tín cũng như các chính sách phát triển đất nước. Để giải quyết vấn đề này, một mặt cần phát huy vai trò của các tổ chức, chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo chân chính thông qua các hành động lên án, đấu tranh chống lại các biểu hiện và hành vi sai trái. Mặt khác, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý để ứng xử với các hành vi này (Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, hình sự, dân sự, đất đai…) nhằm từng bước tạo ra môi trường sinh hoạt tôn giáo lành mạnh đúng với quan điểm, chính sách của Nhà nước và đường hướng hành đạo tiến bộ của các tôn giáo trên tinh thần “tốt đời, đẹp đạo”.

---------

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 5 (35) - 2023

1 Nguyễn Đức Lộ: Cơ cấu tổ chức, sinh hoạt theo giáo xứ của người Công giáo di cư năm 1954 tại Nam Bộ (Nghiên cứu trường hợp Hố Nai, Đồng Nai và Cái Sắn, Cần Thơ), Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 12/2012, tr.38.

2, 8, 9 Linh mục Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, 1988, tr.113, 122-123, 124.

3 Đây là một Đảng chính trị do Ngô Đình Diệm lập ra với học thuyết Duy linh – Nhân vị. Chủ nghĩa Duy linh – Nhân vị là một lý thuyết, một triết lý gồm hai phần: Chủ nghĩa Duy linh và chủ nghĩa Nhân vị. Chủ nghĩa Duy linh bao gồm những quan điểm chung nhất về giai cấp thống trị, về thế giới và con người, tức nhân vị. Chủ nghĩa Nhân vị là những quan niệm chung của giai cấp thống trị về con người và xã hội, trên cơ sở những tư tưởng, nền tảng của chủ nghĩa Duy linh (xem: Nguyễn Hồng Dương Nguyên nhân dẫn đến phong trào Phật giáo ở miền Nam Việt Nam năm 1963 trong sách “Nhìn lại phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963” do Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý, Thích Nhật Từ (đồng chủ biên), Nxb Phương Đông, 2013.

4 Nguyễn Hồng Dương: Nguyên nhân dẫn đến phong trào Phật giáo ở miền Nam Việt Nam năm 1963 trong sách “Nhìn lại phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963” do Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý, Thích Nhật Từ (đồng chủ biên), Nxb Phương Đông, 2013, tr.53-54.

5 Thời kỳ này ở Việt Nam nói chung và miền Nam Việt Nam nói riêng tồn tại nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu nghĩa…

6 Nguyễn Hồng Dương: Nguyên nhân dẫn đến phong trào Phạt giáo 1963 ở miền Nam Việt Nam, https://phatgiao.org.vn/nguyen-nhan-dan-den-phong-trao-phat-giao-1963-o-mien-nam-vietnam-d11149.html, cập nhật Thứ bảy, 15/06/2013, 08:48 AM

7 Thích Nhật Từ - Nguyễn Kha (đồng chủ biên): Pháp nạn Phật giáo 1963 - Nguyên nhân, bản chất và tiến trình, Nxb Hồng Đức, tr.12.

10 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr.476.

11 & 12 Hà Minh Hồng - Phạm Thị Ngọc Thu (Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh): Nhìn lại Phong trào Phật giáo 1963 – Một cách tiếp cận, trong sách Nhìn lại phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963 do Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý, Thích Nhật Từ (đồng chủ biên), Nxb Phương Đông, 2013.

13 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Hiến pháp năm 1992, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1992.

14 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Hiến pháp năm 2013, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013.

15 & 16 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật tín ngưỡng, tôn giáo (hiện hành), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017.