TS. PHẠM VĂN GIANG
Học viện Chính trị khu vực III
Email: phamgiang.hvct3@gmail.com

Tóm tắt: Để hoàn thiện thể chế, phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới, ngày 04/5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Nội dung Nghị quyết đã nhận được sự đồng tình, đánh giá cao của các chuyên gia, nhà khoa học, giới doanh nghiệp, người dân. Tuy nhiên, trên một số diễn đàn, nhất là các trang mạng xã hội vẫn xuất hiện các quan điểm sai trái, thù địch về chủ trương đúng đắn này, từ đó gieo rắc hoài nghi, gây chia rẽ lòng tin của nhân dân vào đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Bài viết nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ khóa: Nghị quyết số 68-NQ/TW, kinh tế tư nhân, kỷ nguyên mới

Countering wrongful and hostile views distorting the Party’s policy on private economic development in the new era

Abstract: To improve institutions and promote the role of the private economy in the new era, on May 4, 2025, the Politburo issued Resolution No. 68-NQ/TW on private economic development, which received broad support and high appreciation from experts, scientists, the business community, and the public. However, on certain forums, especially social media platforms, wrongful and hostile views regarding this sound policy have continued to emerge, thereby spreading skepticism and undermining public confidence in the Party’s economic development line. The article identifies and refutes wrongful and hostile views on the Party’s policy of private economic development in the new era - the era of the nation’s rise.

Keywords: Resolution No. 68-NQ/TW, private economy, new era

 Quang cảnh Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân 
(Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ)

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, minh bạch nhằm tạo điều kiện để khu vực kinh tế này phát triển lành mạnh, hiệu quả và bền vững. Chủ trương đó nhận được sự đồng tình và đánh giá tích cực của giới khoa học, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân.

Tuy nhiên, trên một số diễn đàn và không gian mạng vẫn xuất hiện các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng. Các luận điệu này không chỉ phủ nhận vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn nhằm gây hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với đường lối phát triển kinh tế và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, việc nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về phát triển kinh tế tư nhân có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.

Bài viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích - tổng hợp, lịch sử - logic, so sánh và phân tích thực tiễn. Trong đó, phương pháp phân tích - tổng hợp được vận dụng nhằm hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân qua các thời kỳ, đặc biệt là những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 68-NQ/TW. Phương pháp lịch sử - logic được sử dụng để làm rõ quá trình đổi mới tư duy của Đảng về kinh tế tư nhân từ sau năm 1986 đến nay. Phương pháp so sánh và đối chiếu được sử dụng nhằm nhận diện các luận điệu sai trái, thù địch thông qua đối chiếu với lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học và thực tiễn phát triển kinh tế ở Việt Nam. Phương pháp phân tích thực tiễn được triển khai thông qua việc khai thác các số liệu, dẫn chứng về vai trò và đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội.

2. Kết quả và thảo luận

2.1. Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch

Trong quá trình xác lập định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Đảng ta ngày càng nhấn mạnh vai trò của kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trao đổi với học viên lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và kỹ năng dành cho cán bộ thuộc diện quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 31/10/2024 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định những thành tựu đạt được sau gần 40 năm đổi mới là cơ sở để đất nước bước vào “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”, trong đó Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc khởi đầu (Tô Lâm, 2024).

Trong định hướng phát triển kinh tế của đất nước, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Kinh tế tư nhân chưa trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế” (Tô Lâm, 2024, tr.11). Tiếp đó, trong bài viết Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng, Tổng Bí thư yêu cầu cần tạo động lực đột phá để mở ra giai đoạn phát triển mới cho doanh nghiệp tư nhân Việt Nam (Tô Lâm, 2025). Trên cơ sở đó, ngày 04/5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, giữ vai trò tiên phong trong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025). Chủ trương này nhận được sự đồng tình và đánh giá tích cực của giới khoa học, cộng đồng doanh nghiệp và đông đảo Nhân dân.

Tuy nhiên, trên một số diễn đàn và không gian mạng vẫn xuất hiện các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng. Những quan điểm này tập trung ở một số dạng chủ yếu sau: (1) có quan điểm cho rằng chủ trương phát triển kinh tế tư nhân trong Nghị quyết số 68-NQ/TW chỉ là “bình mới rượu cũ”, không có thay đổi thực chất; đồng thời cho rằng Đảng chỉ coi trọng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, còn kinh tế tư nhân không có môi trường cạnh tranh bình đẳng trong phát triển; (2) có quan điểm quy kết việc thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân là nhằm phục vụ “lợi ích nhóm”, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Từ một số vụ việc doanh nghiệp tư nhân vi phạm pháp luật như trốn thuế, sản xuất hàng giả, thao túng thị trường hoặc các vụ án tham nhũng có liên quan đến doanh nghiệp, các đối tượng này quy chụp toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân là tiêu cực, thiếu minh bạch và chỉ là “sân sau” của quan chức; (3) có quan điểm cho rằng việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia đồng nghĩa với việc Việt Nam đang từng bước từ bỏ chủ nghĩa xã hội để chuyển sang con đường “chủ nghĩa tư bản hoang dã”, thừa nhận sự bóc lột và xa rời bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa.

2.2. Luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch 

Thứ nhất, quan điểm cho rằng chủ trương phát triển kinh tế tư nhân trong Nghị quyết số 68-NQ/TW chỉ là “bình mới rượu cũ”, không có thay đổi thực chất, là nhận định thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn 

Trước thời kỳ đổi mới, do nhận thức về chủ nghĩa xã hội và mô hình phát triển kinh tế còn chưa đầy đủ, việc vận dụng vào thực tiễn ở nước ta bộc lộ nhiều hạn chế, trong đó có quan điểm xem kinh tế tư nhân là sản phẩm thuần túy của chủ nghĩa tư bản. Điều này dẫn đến việc chưa thiết lập được quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, góp phần làm cho nền kinh tế - xã hội lâm vào tình trạng khủng hoảng.

Nhận thức được những hạn chế đó, từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, xác định nền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp để xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với quy luật khách quan của nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987). Từ đây, kinh tế tư nhân từng bước được thừa nhận và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Qua các kỳ Đại hội, nhận thức của Đảng về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân tiếp tục được bổ sung, phát triển. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh “Có chính sách phù hợp, tạo môi trường thuận lợi, an toàn để doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận bình đẳng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; mở rộng sản xuất, kinh doanh, đa dạng hóa thị trường, xây dựng và phát triển thương hiệu, nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.96).

Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân. Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên chính thức ghi nhận vai trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh; Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp và trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể kinh tế phát triển (Quốc hội Việt Nam, 1992; 2013). Cùng với đó, nhiều đạo luật quan trọng như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa... đã góp phần hình thành hành lang pháp lý tương đối đồng bộ, minh bạch và bình đẳng cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức và tư duy của Đảng về kinh tế tư nhân. Nghị quyết xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xóa bỏ định kiến đối với khu vực này, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp và tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025).

Đặc biệt, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 198/2025/QH15, ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt để phát triển kinh tế tư nhân và Chính phủ ban hành Nghị quyết số 139/NQ-CP, ngày 17/5/2025 về kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội đã cho thấy quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững. Những chủ trương, chính sách này thể hiện rõ tính đổi mới, đồng bộ và thực chất, không phải “bình mới rượu cũ” như các luận điệu xuyên tạc.

Thứ hai, quan điểm cho rằng phát triển kinh tế tư nhân sẽ làm gia tăng bất bình đẳng xã hội, khiến đại đa số người dân bị bỏ lại phía sau là sự nhìn nhận phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn 

Trong mọi xã hội có giai cấp đều tồn tại sự phân hóa giàu nghèo ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, điểm khác biệt căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là Nhà nước giữ vai trò định hướng, điều tiết phát triển thông qua hệ thống pháp luật, chính sách phân phối, an sinh xã hội và các chương trình hỗ trợ đối tượng yếu thế nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân không chỉ đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra hàng triệu việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và thúc đẩy an sinh xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã tích cực tham gia các hoạt động trách nhiệm xã hội, hỗ trợ cộng đồng và đồng hành cùng Nhà nước trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, cần nhìn nhận khách quan và toàn diện, thay vì phiến diện và áp đặt định kiến sai lầm về khu vực kinh tế tư nhân. Việc phủ nhận hoặc xem nhẹ vai trò của kinh tế tư nhân không những đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng mà còn cản trở quá trình phát triển và hội nhập kinh tế bền vững của đất nước. Điều cần thiết là phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách để kinh tế tư nhân phát triển đúng hướng, đồng hành cùng Nhà nước và các khu vực kinh tế khác trong sự nghiệp xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát triển nhanh và bền vững, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.

Việc một số doanh nghiệp tư nhân vi phạm pháp luật như trốn thuế, sản xuất hàng giả, thao túng thị trường hay gây ô nhiễm môi trường chỉ là những hiện tượng cá biệt. Các hành vi vi phạm này có thể xuất hiện ở nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Vì vậy, lấy hiện tượng cá biệt để phủ nhận toàn bộ vai trò của kinh tế tư nhân là cách nhìn phiến diện, mang tính định kiến và thiếu cơ sở khoa học.

Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn như Vingroup, Vietjet, FPT, TH True Milk, Vinamilk, Masan, Thaco, Hòa Phát... đã tiên phong trong đổi mới sáng tạo, đóng vai trò dẫn dắt ở nhiều ngành kinh tế quan trọng. Khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động của nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025). Đây là lực lượng năng động, có khả năng thích ứng cao với cơ chế thị trường, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đối với các vụ án tham nhũng có liên quan đến doanh nghiệp tư nhân, cần thấy rằng nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự suy thoái, tha hóa của một bộ phận cán bộ có chức quyền cùng với những bất cập trong cơ chế quản lý, giám sát. Đảng và Nhà nước ta đã và đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, kể cả trong khu vực kinh tế tư nhân. Điều đó cho thấy quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch chứ không phải bao che cho sai phạm. Vì vậy, không thể quy chụp toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân là “sân sau” của quan chức như các luận điệu xuyên tạc.

Thứ ba, quan điểm cho rằng phát triển kinh tế tư nhân đồng nghĩa với việc Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa xã hội để đi theo “chủ nghĩa tư bản hoang dã” là hoàn toàn không có cơ sở lý luận và thực tiễn 

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là giai đoạn tồn tại đan xen nhiều thành phần kinh tế khác nhau. V.I.Lênin khẳng định trong thời kỳ quá độ vẫn tồn tại cả những yếu tố của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội (V.I.Lênin, 2005; 2006). Vì vậy, sự tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam là phù hợp với quy luật khách quan và điều kiện thực tiễn của đất nước.

Còn “chủ nghĩa tư bản hoang dã” là một giai đoạn lịch sử của chủ nghĩa tư bản, nơi sự bóc lột lao động diễn ra không giới hạn, thiếu sự can thiệp của nhà nước không các thiết chế bảo vệ quyền lợi người lao động. Trong khi đó, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thông qua bảo vệ quyền lợi người lao động; kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh; điều tiết phân phối lại thu nhập thông qua thuế và an sinh xã hội; hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, người yếu thế... Do đó, không thể quy kết rằng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam là đi theo “chủ nghĩa tư bản hoang dã”, thừa nhận sự tồn tại của bóc lột.

Cần nhận thức rằng, chủ nghĩa Mác không phủ nhận mọi hình thức sở hữu tư nhân, mà chủ yếu phê phán chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa dựa trên sự chiếm đoạt giá trị thặng dư và bóc lột lao động. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.615) và “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.618). Điều đó có nghĩa là, mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản không nằm ở việc phủ định mọi hình thức sở hữu, mà là ở chỗ thủ tiêu chế độ sở hữu tư sản - tức là hình thức sở hữu mà giai cấp tư sản sử dụng quyền sở hữu để áp bức và bóc lột sức lao động của người khác. Chủ nghĩa cộng sản không hề phủ nhận quyền sở hữu của cá nhân đối với thành quả lao động chính đáng, chỉ bác bỏ việc sử dụng sở hữu như một công cụ để bóc lột sức lao động của người khác. Hơn nữa, trong chủ nghĩa xã hội phân phối theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. Theo đó, người có năng lực, cống hiến nhiều cho xã hội, thì được hưởng nhiều hơn, đương nhiên họ có sở hữu tài sản do chính lao động họ tạo ra. Đây chính là động lực chủ yếu để thúc đẩy nâng cao năng suất lao động xã hội.

Do đó, phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của đất nước, không phải là sự “chệch hướng” hay từ bỏ chủ nghĩa xã hội như các quan điểm xuyên tạc đã rêu rao. Việc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW là bước phát triển quan trọng trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

2.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng trong kỷ nguyên mới, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp cả về lý luận, tuyên truyền, thể chế và thực tiễn.

Trước hết, cần tiếp tục nâng cao nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là yêu cầu có ý nghĩa nền tảng nhằm thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Thực tiễn cho thấy, một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân còn chưa nhận thức đầy đủ về bản chất, vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó dễ dao động trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Vì vậy, cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân; làm rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tư nhân với định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; qua đó củng cố cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái.

Thứ hai, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung Nghị quyết số 68-NQ/TW và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân. Công tác tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên, đa dạng về nội dung và hình thức, phù hợp với từng đối tượng, nhất là trên không gian mạng - nơi các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để phát tán thông tin sai trái, xuyên tạc. Các cơ quan báo chí, truyền thông, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, báo cáo viên, tuyên truyền viên cần chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời làm rõ bản chất các vấn đề, định hướng dư luận xã hội đúng đắn. Đồng thời, cần tăng cường lan tỏa những mô hình doanh nghiệp tư nhân tiêu biểu, những doanh nhân có trách nhiệm xã hội, có đóng góp tích cực cho phát triển đất nước nhằm tạo niềm tin và sự đồng thuận trong xã hội.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, bình đẳng và thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển. Thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc là do vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập trong cơ chế quản lý, trong tiếp cận nguồn lực, thủ tục hành chính hoặc tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực ở một số nơi. Vì vậy, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp của doanh nghiệp và người dân theo quy định của pháp luật. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm trong quản lý kinh tế nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và củng cố niềm tin của xã hội đối với chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng.

Thứ tư, cần nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng truyền thông xã hội, các thế lực thù địch ngày càng gia tăng sử dụng Internet và mạng xã hội để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, trong đó có vấn đề phát triển kinh tế tư nhân. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; kịp thời phát hiện, đấu tranh, xử lý các thông tin xấu độc, sai sự thật. Đồng thời, cần phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên lý luận chính trị... trong việc tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái bằng lập luận khoa học, khách quan và có sức thuyết phục cao.

Thứ năm, cần chú trọng xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam lớn mạnh, có đạo đức, văn hóa kinh doanh và tinh thần trách nhiệm xã hội. Kinh tế tư nhân muốn phát triển bền vững không chỉ dựa vào cơ chế, chính sách mà còn phụ thuộc vào bản lĩnh của đội ngũ doanh nhân. Vì vậy, cần tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương xây dựng đội ngũ doanh nhân có khát vọng phát triển đất nước, thượng tôn pháp luật, năng động, sáng tạo và tích cực tham gia thực hiện trách nhiệm xã hội. Đây cũng là giải pháp quan trọng nhằm khẳng định bản chất tốt đẹp, tiến bộ của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, qua đó góp phần bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

3. Kết luận

Phát triển kinh tế tư nhân là chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân, khẳng định đây là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững đất nước.

Những quan điểm cho rằng phát triển kinh tế tư nhân là “bình mới rượu cũ”, phục vụ “lợi ích nhóm” hay đồng nghĩa với việc từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đều là các luận điệu sai trái, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Thực tiễn 40 năm đổi mới đã khẳng định khu vực kinh tế tư nhân ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cho thấy sự tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối đổi mới của Đảng.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi, minh bạch và bình đẳng cho kinh tế tư nhân phát triển là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược. Đồng thời, cần kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với đường lối đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. ■

Tài liệu tham khảo

1. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995). Toàn tập (Tập 4). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1987). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nhà xuất bản Sự thật.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị Về phát triển kinh tế tư nhân. Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Tô Lâm. (2024). Một số nhận thức cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tạp chí Cộng sản, 1.050, tr. 3 - 11.

6. Tô Lâm. (2025). Phát triển kinh tế tư nhân - Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng. Tạp chí Cộng sản, 1.059, tr. 5 - 10.

7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2002). Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980,1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

8. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

9. V.I.Lênin. (2005). Toàn tập (Tập 39). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

10. V.I.Lênin. (2006). Toàn tập (Tập 36). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 3 (51) - 2026