ThS VŨ HỒNG HÀ
Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo

(TTKHCT) - Ngoại giao quan hệ chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hoá, đồng thời có vị trí và vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc, phát triển đất nước và phát huy ảnh hưởng trên trường quốc tế. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đưa đến thắng lợi của Hiệp định Paris.

1. Khái quát về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

Ngoại giao của ông cha ta có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời bình, với chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo “trong xưng đế, ngoài xưng vương” với thiên triều và chính sách ngoại giao linh hoạt, kiên quyết với các nước láng giềng phía Nam, ông cha ta đã giữ gìn độc lập tự chủ, biên cương quốc gia, mở rộng lãnh thổ, phát triển đất nước. Trong thời chiến, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự theo phương châm “vừa đánh vừa đàm”, tiến hành ngoại giao tâm công, vừa mềm dẻo vừa cứng rắn góp phần đánh thắng kẻ thù, kết thúc chiến tranh, giải quyết hậu quả chiến tranh cũng như từng bước bình thường hoá quan hệ.

Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo tinh hoa ngoại giao truyền thống, kinh nghiệm chính trị, ngoại giao thế giới, phát huy ngoại giao lên tầm cao mới, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới, luôn được đặt trong các trào lưu tiến bộ của thời đại. Sau Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh và Đảng xác định: “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”. Được Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo, ngoại giao Việt Nam lúc thì hòa với Tưởng để chống Pháp, lúc thì hoà với Pháp để đuổi Tưởng, góp phần hết sức quan trọng vào việc bảo vệ, củng cố nền độc lập non trẻ sau Cách mạng Tháng Tám. Trong kháng chiến chống Pháp, ngoại giao đã có những đóng góp quan trọng tạo dựng liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương, tranh thủ được sự ủng hộ, viện trợ to lớn, hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, mở được quan hệ ngoại giao với một số nước Đông Nam Á. Đánh giá về những đóng góp của công tác ngoại giao, Đảng ta đã từng nhận định: “Công tác ngoại giao và công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân nói chung đã góp phần tích cực vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”. Đường lối, chính sách ngoại giao của nước ta lúc đó là độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế và nhiệm vụ của mặt trận ngoại giao là đánh vào hậu phương quốc tế của địch, củng cố hậu phương quốc tế của ta, giải quyết vấn đề ta thắng địch thua tại bàn đàm phán. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của ngoại giao tùy thuộc vào nội lực quốc gia: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Trên cơ sở đó, Đảng xác định: “Muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”.

Trên cơ sở nhận thức được mối quan hệ biện chứng giữa ngoại giao và quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội, đặc biệt là sự ảnh hưởng quyết định của quân sự đối với ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đánh thắng lợi thì ngoại giao thắng nhiều. Không cứ gì ở ta mà ở nước nào cũng vậy. Cố nhiên ngoại giao là rất quan trọng nhưng cái chính là mình phải đánh thắng”. Ngược lại, thắng lợi ngoại giao tác động đến chiến trường. Mấy năm kháng chiến đã đưa lại cho nước ta một thắng lợi to nhất trong lịch sử Việt Nam, hai nước lớn là Liên Xô và Trung Quốc và các nước dân chủ mới đã công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi chính trị ấy sẽ là cái đà cho những thắng lợi sau này. Đánh hỗ trợ đàm, đàm không cản trở đánh, chiến thắng quân sự và đàm phán ký kết Hiệp định Paris buộc quân Mỹ phải rút về nước, tạo ra sự thay đổi cơ bản so sánh lực lượng có lợi cho chúng ta, góp phần quan trọng vào thắng lợi mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

2. Vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong đấu tranh ở Hội nghị Paris

Trong bối cảnh trên thế giới còn tâm lý phục Mỹ và sợ Mỹ, có đồng minh chiến lược của ta còn lo ngại chiến tranh có thể lan rộng từ Việt Nam ra thế giới, Nghị quyết Trung ương 12 của Đảng (12/1965) đã khẳng định: “Tập trung lực lượng cả nước, kiên quyết đánh địch và thắng địch trên chiến trường chính là miền Nam cũng tức là kiên trì phương châm ra sức hạn chế cuộc chiến tranh xâm lược của địch và thắng địch trong cuộc chiến tranh hạn chế đó”5. Phương châm chiến lược này thể hiện rõ trách nhiệm của nhân dân ta với hòa bình thế giới, góp phần đắc lực vào việc tập hợp lực lượng của ta. Thực hiện phương châm này, ta không nhận quân đội nước ngoài vào tham chiến, không quốc tế hóa cuộc đàm phán Paris. Trên cơ sở hiểu rõ “Mỹ là tên đế quốc đầu sỏ”, “có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất phe đế quốc”, nhưng “không thể sử dụng được hết sức mạnh (…) trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam”; “dù đế quốc Mỹ đưa vào mấy chục vạn quân (…) về chiến lược chúng cũng buộc phải phải phân tán lực lượng trên khắp các chiến trường và ngày càng lâm vào thế bị động, càng sa lầy và thất bại”6, nên ngay khi Mỹ bắt đầu ồ ạt đưa quân vào miền Nam, tiến hành Chiến tranh cục bộ chống nước ta, tại Hội nghị Trung ương 12 (tháng 12/1965), đồng chí Lê Duẩn nói: “Chúng ta không chủ trương đánh và tiêu diệt đến tên lính Mỹ cuối cùng ở miền Nam và bắt đế quốc Mỹ đầu hàng vô điều kiện (…). Chúng ta chủ trương đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, bắt chúng phải thừa nhận những điều kiện của chúng ta”7.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, ta phải áp dụng phương châm “đánh lâu dài” và “có đánh, có đàm”. Vấn đề đặt ra là lúc nào thì “đàm”. Trong bối cảnh Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam, ta chưa có nhiều thắng lợi lớn về quân sự, Mỹ mở nhiều chiến dịch ngoại giao rộng khắp thế giới, rêu rao “thiện chí hòa bình”, “đàm phán vô điều kiện”, một số nước làm trung gian cho Mỹ, “lại có quan điểm của một số nước lớn trong phe ta mà chiến lược trên thế giới khác với chúng ta, cho nên từ nội dung cho đến giọng nói cao thấp cũng khác với chúng ta”8; thì vấn đề “đánh-đàm” không chỉ liên quan đến Mỹ mà còn liên quan đến vấn đề đoàn kết quốc tế của ta. Cân nhắc các khả năng: “đánh thắng rồi mới đàm, hoặc vừa đánh vừa đàm”, đồng chí Lê Duẩn nói: “Giữ vững sự đoàn kết với phe ta, tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của phe ta là vấn đề chiến lược. Còn vấn đề đánh và đàm là vấn đề sách lược…Trong tình hình của chúng ta, có lẽ không đợi phải giành được thắng lợi một cách căn bản rồi mới đàm, mà đến một lúc nào đó, trong những điều kiện nhất định sẽ có thể vừa đánh vừa đàm, nhằm hạn chế những hành động quân sự của đối phương, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi hơn nữa trên thế giới, và cũng để giấu bớt ý đồ chiến lược của nước ta”9. Nghị quyết Trung ương 12 của Đảng (12/1965) kết luận: “Lúc này chưa có điều kiện chín muồi cho một giải pháp chính trị về vấn đề Việt Nam. Chỉ khi nào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ bị đè bẹp, những mục tiêu độc lập, hòa bình, dân chủ, trung lập của nhân dân miền Nam được bảo đảm thì ta mới có thể thương lượng để giải quyết vấn đề Việt Nam”.

Triển khai chủ trương đó, từ năm 1965 đến năm 1967, ta kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) đã đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ. Nhiều máy bay Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc. Phát huy thắng lợi trên chiến trường, từ tháng 5/1968, ta mở cục diện vừa đánh vừa đàm. Sau thắng lợi to lớn Tết Mậu Thân, ngày 03/6/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Đế quốc Mỹ chán rồi, nhưng rút ra thế nào. Thua mà danh dự. Đó là điều Mỹ muốn”10. Từ nhận định đó, ngày 01/01/1969, Người vạch kế hoạch kết thúc chiến tranh theo hai bước: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Bước một tập trung giải quyết vấn đề quân sự với Mỹ, bước hai mới đánh đổ ngụy. Chúng ta đã triển khai công tác đối ngoại theo hai hướng chính: vận động quốc tế nhằm khai thác sức mạnh thời đại, tranh thủ ngoại lực và hình thành mặt trận nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ ủng hộ ta, cô lập và gây sức ép với chính quyền Mỹ, phân hóa nội bộ Mỹ; phối hợp với mặt trận quân sự và chính trị, tiến công ngoại giao từng bước kéo địch xuống thang chiến tranh đi đến ký kết Hiệp định Paris đuổi quân Mỹ về nước, đảm bảo điều kiện quốc tế thuận lợi để Tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Hiệp định Paris - đỉnh cao thắng lợi theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thời kỳ chống Mỹ, cứu nước thể hiện sự vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao của Người trên một số lĩnh vực:

Một là, đàm phán nhưng phải bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta. Đó là nguồn gốc, mục tiêu, nội dung cơ bản, là điều không thể đem ra để thương lượng. Vấn đề nguyên tắc trong đấu tranh ngoại giao của ta là Mỹ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của ta, phải chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước và tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam, quân miền Bắc ở lại miền Nam. Từ nguyên tắc này, chúng ta xác định đúng mục tiêu đấu tranh ngoại giao cho mỗi giai đoạn và đưa ra những lập trường nhất quán, do đó luôn tạo được thế trong đấu tranh. Trong thư gửi Tổng thống G.Ford, H.Kissinger đã thú nhận: “Bắc Việt không hề thay đổi các mục tiêu ngoại giao mà chỉ thay đổi không đáng kể lập trường ngoại giao của họ (…). Bắc Việt khiến chúng ta phải liên tục chịu sức ép của công luận”11.

Hai là, đàm phán trên cơ sở thực lực và phải phục vụ mặt trận quân sự và mặt trận chính trị. Trong đấu tranh ngoại giao, lập trường ngoan cố của Mỹ là: Miền Bắc xâm lược miền Nam (!?); Mỹ chấm dứt ném bom phải đi đôi với việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngừng đưa lực lượng vào miền Nam; hai bên cùng rút quân12. Còn phía ta đòi Mỹ phải tôn trọng Hiệp định Giơnevơ 1954 về các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Mỹ phải chấm dứt ném bom vô điều kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút quân, xoá bỏ chính quyền Sài Gòn, lập chính phủ liên hiệp gồm ba thành phần. Lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết. Diễn biến chiến sự năm 1972 cho thấy nếu không có sự yểm trợ bằng máy bay B-52 và pháo hạm của Mỹ thì Ngụy khó lòng đương đầu với sức tiến công mãnh liệt của ta. Vì vậy, ta quyết định triển khai kế hoạch kết thúc chiến tranh theo hai bước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra.

Ba là, đàm phán phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế nhằm tạo ra sức mạnh to lớn để giành thắng lợi. Căn cứ vào tính thời đại của cuộc kháng chiến của nhân dân ta, Đảng ta quyết định thực hiện chính sách Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó đề rất cao nhân tố quốc tế: “Chúng ta cần nắm vững phương châm dựa vào sức mình là chính nhưng chúng ta hết sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và viện trợ quốc tế vì đó là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định vào thắng lợi của nhân dân ta”. Để triển khai chính sách đó, chúng ta giương cao hai chiến lược: “Xây dựng CNXH và giải phóng miền Nam và sách lược miền Nam “hòa bình, trung lập”13 , triển khai thế trận “một mà hai, hai mà một” - ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và của Mặt trận dân tộc giải phóng (về sau là Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam), đấu tranh cho cùng một mục tiêu là giải phóng miền Nam và dưới sự lãnh đạo của một Đảng.

Hai chiến lược của chúng ta góp phần vào việc giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của thời đại là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa các dân tộc bị áp bức và chủ nghĩa đế quốc, giữa chiến tranh và hòa bình do đó tranh thủ được các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào Không liên kết và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, kể cả nhân dân Mỹ. Sách lược “hòa bình, trung lập” tạm gác màu sắc giai cấp ở miền Nam nên tranh thủ được mọi lực lượng yêu nước Việt Nam, dù thuộc giai cấp nào, để giải quyết mâu thuẫn chủ yếu lúc này là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ xâm lược và bọn bán nước, đúng như Nghị quyết Trung ương 12 của Đảng (12/1965) đánh giá: “Quân viễn chính Mỹ càng trực tiếp tham gia chiến tranh thì bộ mặt cướp nước của đế quốc Mỹ và bộ mặt bán nước của ngụy quân và ngụy quyền càng bị bóc trần, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai càng gay gắt hơn”14, “Đế quốc Mỹ càng đưa quân vào miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại ở miền Bắc thì càng bị cô lập trên thế giới và ngay trong nước Mỹ”15. Ta duy trì được sự ủng hộ và viện trợ to lớn và có hiệu quả của các nước đồng minh chiến lược của ta trong suốt cuộc kháng chiến. Ta đã lập được mặt trận nhân dân các nước Đông Dương chống đế quốc Mỹ, phối hợp nhịp nhàng và phát huy hiệu quả. Chúng ta đã góp phần hình thành trên thực tế mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ và giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Bốn là, đàm phán phải nắm vững nguyên tắc, nhưng phải có sách lược mềm dẻo, khôn khéo, linh hoạt, chủ động. Việc “quân Mỹ rút ra, quân ta ở lại” là một thắng lợi trong thực hiện chủ trương này. Mỹ gặp khó khăn to lớn cả ở Việt Nam, trong nước Mỹ và trên thế giới nên buộc phải chấp nhận Hiệp định Paris ngày 27/01/1973 với nội dung chính là “Mỹ đi, ta ở”. “Mỹ đi” thì phải công nhận quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, rút hết quân đội và căn cứ quân sự về nước, cam kết không dính líu trở lại, tháo gỡ bom mìn đã thả ở miền Bắc và “đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam”. “Ta ở” là miền Nam nguyên trạng với hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta đã sử dụng nhiều sách lược ngoại giao khôn khéo.

Sách lược lớn nhất để tập hợp lực lượng trong và ngoài miền Nam là mục tiêu miền Nam “hòa bình, trung lập” được nêu trong Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sách lược này đã tập hợp mọi tầng lớp nhân dân miền Nam thuộc bất cứ giai cấp nào, miễn là có tinh thần yêu nước, chống xâm lược và góp phần đắc lực vào việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam. Chỉ trong vòng ba năm, đến năm 1963, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được 321 tổ chức thuộc nhiều xu hướng chính trị khác nhau ở 42 nước, kể cả ở Mỹ, rầm rộ tỏ tình đoàn kết, ủng hộ. Tới năm 1975, có 66 nước lập quan hệ ngoại giao với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sách lược về phát huy thắng lợi và mở cục diện đánh-đàm nhưng vẫn giữ được đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc là yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom vô điều kiện miền Bắc rồi mới đàm và sách lược ngày 03/4/1968 khi Mỹ mới chỉ tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhưng ta vẫn nhận cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc.

Sách lược “lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết” được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nêu lên từ 08/5/1969 vừa đáp ứng đòi hỏi cơ bản của ta là quân miền Bắc ở lại miền Nam, vừa tạo “danh dự” cho Mỹ vì không có chữ nào chống lại lập trường “hai bên cùng rút quân” của Mỹ, lại vừa tỏ thiện chí chấp nhận nói chuyện với chính quyền Sài Gòn. Suốt cuộc chiến, Mỹ đã không đẩy nổi quân miền Bắc ra khỏi miền Nam, thậm chí còn được tăng thêm để mở cuộc tấn công Xuân - Hè năm 1972, do đó Mỹ phải chấp nhận sách lược của ta. Sách lược tác động vào nội tình nước Mỹ được nêu trong lập trường bảy điểm 01/7/1971 đó là “Thời hạn rút hết quân Mỹ là thời hạn thả hết tù binh Mỹ”. Sách lược này điểm trúng “huyệt” của phong trào phản chiến ở Mỹ là rút quân và lấy tù binh về nước, trong đó nhiều phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc là con nhà quan chức cao cấp hoặc giàu có. Vì vậy, Thượng viện Mỹ ra nhiều nghị quyết về cắt giảm kinh phí chiến tranh, về thời hạn rút hết quân, cuối cùng chỉ đòi điều kiện duy nhất là đưa được tù binh về nước. Sách lược để đuổi Mỹ đi sau khi đã đánh bại ý xâm lược của chúng là kết thúc chiến tranh theo hai bước “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Vấn đề nội bộ miền Nam sẽ giải quyết theo hai bước: bước một thỏa thuận những nguyên tắc chung, bước hai sau ngừng bắn sẽ giải quyết những vấn đề cụ thể. Sách lược này phù hợp với so sánh lực lượng của ta và Mỹ, vừa giúp ta hướng tới mục tiêu chiến lược của mình, vừa để Mỹ có “danh dự”, đỡ ảnh hưởng xấu đến chiến lược toàn cầu của Mỹ.

Năm là, biết giành thắng lợi từng bước trong đấu tranh ngoại giao. Cuộc đấu tranh ngoại giao diễn ra theo hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất từ năm 1965 đến năm 1967 với mục tiêu là đập tan chiến dịch hòa bình bịp bợm của đế quốc Mỹ và giai đoạn thứ hai là từ năm 1967 với mục tiêu là tiến công ngoại giao, buộc địch xuống thang, cuối cùng phải ký hiệp định chấm dứt xâm lược. Trong hai năm 1965-1966, Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, gây chiến tranh phá hoại chống miền Bắc và mở các chiến dịch ngoại giao rất thâm độc, sâu rộng như chiến dịch “Hoa tháng 5”, “Kế hoạch X.Y.Z”, “Cúc vạn thọ”... để vu cáo “miền Bắc xâm lược miền Nam”, rêu rao “thiện chí hòa bình”. Trên thế giới nhiều nước tư bản chủ nghĩa, một số nước thuộc Phong trào không liên kết và một số nước xã hội chủ nghĩa còn làm trung gian ít nhiều có lợi cho Mỹ. Ở miền Nam, tuy ta vẫn ở thế tiến công, nhưng quân Mỹ vào đông, tạo so sánh lực lượng mới, gây khó khăn cho ta. Vì vậy, Nghị quyết Trung ương lần thứ 11 của Đảng (3/1965) nêu các chủ trương chỉ đạo cuộc đấu tranh đối ngoại những năm đầu Chiến tranh cục bộ là: “Làm rõ chính sách và hành động của đế quốc Mỹ là xâm lược”, “phá hoại Hiệp định Giơnevơ 1954”; cuộc đấu tranh của nhân dân ta là chính nghĩa, “là một đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới”; ta “quyết đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ”; “Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ ngày càng mạnh mẽ và đầy đủ hơn của phe ta và của nhân dân thế giới”16. Triển khai Nghị quyết Trung ương lần thứ 11, ngày 08/4/1965 Chính phủ ta công bố Lập trường Bốn điểm đặt cơ sở cho một giải pháp hòa bình đối với vấn đề Việt Nam; đồng thời qua đó cho thế giới thấy rõ Mỹ là kẻ xâm lược, vi phạm Hiệp định Genève năm 1954, cuộc đấu tranh của nhân dân ta là chính nghĩa. Lập trường Bốn điểm cùng với Tuyên bố Năm điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 22/3/1965 là những văn kiện ngoại giao quan trọng để tập hợp lực lượng trên thế giới.

Sau khi giành được nhiều thắng lợi to lớn về quân sự ở cả hai miền Nam, Bắc, chúng ta chuyển sang giai đoạn tiến công ngoại giao. Nghị quyết Trung ương lần thứ 13 của Đảng (01/1967) nêu rõ: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao lúc này là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh”17, “Trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất của cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ vai trò quan trọng, tích cực, chủ động”18. Nghị quyết Bộ Chính trị (tháng 4/1969) chỉ rõ tầm quan trọng đặc biệt của đấu tranh ngoại giao: “Trong giai đoạn mới, ngoại giao là một măt trận quan trọng có ý nghĩa chiến lược”19. Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 13 của Đảng (01/1967), ta đã tiến công các đòn ngoại giao sắc sảo, mở được cục diện đánh-đàm với Hội nghị Paris gồm hai giai đoạn: Hội nghị hai bên giai đoạn I từ tháng 5 đến hết tháng 10/1968 nhằm xác định việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom ném bom miền Bắc và Hội nghị bốn bên giai đoạn từ 1969 đến 01/1973 bàn về việc Mỹ chấm dứt chiến tranh.

Sáu là, lợi dụng thời cơ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta biết tạo dựng và tận dụng tốt thời cơ. Sau Tết Mậu Thân (1968), Mỹ phải đơn phương ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán. Phong trào nhân dân thế giới và trong nước Mỹ ủng hộ ta lên cao. Tuy Tuyên bố 31/3/1968 của Tổng thống Johnson chưa đáp ứng hết yêu cầu của ta nhưng lợi dụng thời cơ này, ngày 03/4/1968, ta chấp nhận tiếp xúc với Mỹ để xác định việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc, mở ra cục diện “đánh - đàm” có lợi cho ta. Tận dụng thời cơ bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1968 khi Đảng Dân chủ đang cầm quyền ở Mỹ cần có bước tiến trong vấn đề Việt Nam để tranh thủ lá phiếu trong bầu cử tổng thống, ta tạo sức ép với chính quyền Mỹ phải chấm dứt ném bom hoàn toàn, không điều kiện miền Bắc từ 01/11/1968. Thắng lợi ngoại giao này phản ánh đúng thế chiến lược mới do cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân tạo ra, đó là đã đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ.

Cuối năm 1972, thắng lợi có ý nghĩa chiến lược mùa Xuân năm 1972, việc Mỹ rút thêm quân cuối năm và cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1972 là những sự kiện do trùng hợp với nhau mà tạo nên thời cơ thuận lợi20. Tận dụng thời cơ đó, ngày 08/10/1972, chúng ta đã trao bản Dự thảo Hiệp định với nội dung thích hợp nên đã phá vỡ bế tắc, tạo bước ngoặt trong đàm phán để đi tới Hiệp định Paris tháng 01/1973. Năm 1973-1974, Mỹ lâm vào khủng hoảng toàn diện. Vụ bê bối Watergate bùng lên từ tháng 3/1973 đưa tới việc truy tố Tổng thống R.Nixon, buộc R.Nixon từ chức tháng 8/1974, gây ra cuộc khủng hoảng quyền lực và lòng tin sâu sắc của chính giới Mỹ. Từ ngày 30/9/1974 đến ngày 08/10/1974, Bộ Chính trị nhận định: “Đây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ, ngoài thời cơ này không có thời cơ nào khác”21. Đàm phán ở Hội nghị Paris phải kết hợp chặt chẽ hai đoàn đám phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo tư tường chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Với những nhận định này, chúng ta đã hoàn thành việc giải phóng miền Nam vào ngày 30/4/1975.

Bảy là, khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương. Đàm phán phải biết kết hợp phong trào chống chiến tranh ngay trong nước Mỹ, hình thành hai mặt trận: trong đánh ra, ngoài đánh vào. Mặt trận số một chống Mỹ là ở Việt Nam, mặt trận thứ hai là ngay trong nước Mỹ. Nhân dân Mỹ đánh từ trong ra, nhân dân ta đánh từ ngoài vào, hai bên giáp công mạnh mẽ thì đế quốc Mỹ nhất định thua, nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ nhất định sẽ thắng. Cùng với việc làm rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của chính quyền Mỹ, ta đã tiến hành nhiều biện pháp ủng hộ phong trào phản chiến ở Mỹ, tác động vào nội bộ Mỹ. Quốc hội Mỹ ngày càng cắt giảm viện trợ, thúc ép chính quyền Mỹ rút quân, cuối cùng chỉ đòi đổi lấy tù binh về. Trong đàm phán, ta khai thác khá hiệu quả các mâu thuẫn trong nội bộ Mỹ. Chúng ta cũng khoét sâu mâu thuẫn Mỹ - ngụy, lớn nhất là mâu thuẫn vào những thời khắc quyết định, như dịp chấm dứt ném bom miền Bắc (01/11/1968) và văn bản thỏa thuận Hiệp định Paris (20/10/1972).

Tám là, luôn giữ độc lập tự chủ và thế chủ động trong đấu tranh ngoại giao. Trong đấu tranh quân sự cũng như đấu tranh ngoại giao, việc tạo ra và giữ thế chủ động, bày thế trận để địch đi vào mà đánh là nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi. Ta luôn chủ động xác định những biện pháp đấu tranh ngoại giao phù hợp với tương quan lực lượng trên chiến trường. Trong bối cảnh các nước lớn đều gây sức ép với ta, đó là Mỹ yêu cầu “đàm phán vô điều kiện”, “Liên Xô muốn thúc đẩy ta đàm phán với Mỹ và muốn làm trung gian, còn Trung Quốc thì lúc đầu chưa tán thành ta đàm phán”, ta đã giữ vững độc lập tự chủ, ra các đòn ngoại giao tháng 2 và 12/1967. Đó là, “chỉ khi nào Mỹ chấm dứt bắn phá vô điều kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể (và “sẽ”) nói chuyện với Mỹ”. Các đòn ngoại giao tiếp theo của ta buộc Mỹ phải chấp nhận đòi hỏi của ta về thời gian mở Hội nghị Paris, thành phần tham gia, vấn đề và nội dung đàm phán, thậm chí cả nội dung Hiệp định. Đây là sự phát triển nhảy vọt của ngoại giao Việt Nam so với Hội nghị Giơnevơ năm 1954. Khi đã mở được Hội nghị Paris, ta bác bỏ những đề nghị của Mỹ qua trung gian, khéo léo từ chối gợi ý của Trung Quốc và Liên Xô về việc tổ chức các cuộc gặp của Cố vấn Lê Đức Thọ với H.Kissinger tại Bắc Kinh và Mátxcơva dịp R.Nixon thăm hai nước này. Ta chủ động tiến hành các biện pháp tránh quốc tế hóa cuộc đàm phán ở Paris. Với Giải pháp toàn bộ mười điểm (08/5/1969), ta chủ động bày thế trận ngoại giao cho đàm phán bốn bên. Với các đề nghị tiếp theo, ta chủ động yêu cầu Mỹ xác định thời hạn rút quân và cam kết cùng với việc Mỹ rút hết quân, ta sẽ trả hết tù binh Mỹ để ép Mỹ và thúc đẩy phong trào phản chiến ở Mỹ. Với Dự thảo Hiệp định 08/10/1972, ta đã chủ động buộc Mỹ thảo luận và ký Hiệp định trên cơ sở đề xuất của ta.

Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Hiệp định đáp ứng các nguyện vọng và các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và đáp ứng nguyện vọng tha thiết về hoà bình của tất cả các nước trên thế giới. Hiệp định là một cống hiến to lớn đối với hoà bình, quyền tự quyết, độc lập dân tộc và việc cải thiện quan hệ giữa các nước.

---------

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 1 (31) - 2023

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, t.8, tr.290.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.28, tr.121.

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.147.  

4 Bộ Ngoại giao, Ban nghiên cứu Lịch sử Ngoại giao: Bác Hồ và hoạt động ngoại giao: một vài kỷ niệm về Bác,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.72.

5, 6, 7, 8, 9, 14, 15, 16 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.26, tr.636, 628, 593, 594, 595, 629, 631, 116.

10, 11 Bộ Ngoại giao: Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.80, 548-549.

12 Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - H.Kissinger tại Paris, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1996, tr.28.

16 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960).

17, 18 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.28, tr.174.

19 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.30, tr.104.

20, 21 Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.271, 362.