TS. MAI TRẦN HẢI ĐĂNGTrường Chính trị thành phố Cần Thơ
TS. HÀ DIỆU THU
Học viện Chính trị khu vực IV
Email: maitranhaidang.tct@gmail.com
Tóm tắt: Bài viết phân tích tác động của việc sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh từ ngày 01/7/2025 đối với hiệu quả liên kết kinh tế nội vùng ở đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình tái cấu trúc không gian hành chính mở ra những cơ hội quan trọng trong việc mở rộng không gian phát triển, nâng cao hiệu lực quản trị vùng và tăng cường liên kết chuỗi giá trị giữa khu vực đất liền với kinh tế biển. Tuy nhiên, việc triển khai mô hình mới cũng đặt ra nhiều thách thức như sự thiếu hoàn thiện của khung pháp lý, hạn chế trong cơ chế điều phối liên tỉnh và những tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, tăng cường đồng bộ hóa quy hoạch phát triển vùng và hiện đại hóa hệ thống hạ tầng logistics, góp phần nâng cao hiệu quả liên kết kinh tế và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Liên kết kinh tế nội vùng, đồng bằng sông Cửu Long, sáp nhập hành chính, cơ hội và thách thức, quản trị vùng
Opportunities and challenges for intra-regional economic linkage in the Mekong Delta post-merger and consolidation of provincial administrative units
Abstract: This article analyzes the impact of the reorganization and merger of provincial-level administrative units, effective from July 1, 2025, on the effectiveness of intra-regional economic linkages in the Mekong Delta. The findings indicate that the restructuring of administrative space creates significant opportunities for expanding development space, enhancing regional governance capacity, and strengthening value-chain connectivity between inland and marine economic sectors. However, the implementation of the new model also poses several challenges, including an incomplete legal framework, limitations in interprovincial coordination mechanisms, and the increasingly severe impacts of climate change. Based on these findings, the article proposes a set of solutions aimed at improving institutional arrangements, promoting the synchronization of regional development planning, and modernizing logistics infrastructure systems. These measures are expected to enhance the effectiveness of regional economic linkages and foster sustainable development in the Mekong Delta under the new governance context.
Keywords: Intra-regional economic linkage, Mekong Delta, administrative merger, opportunities and challenges, regional governance
Bản đồ hành chính vùng đồng bằng sông Cửu Long sau ngày 01-7-2025. (Nguồn: Huỳnh Hải Đăng (2026), Vai trò của phát triển du lịch nông nghiệp đối với lợi ích của nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Lao động, tr.89)1. Đặt vấn đề
Là một trong sáu vùng chiến lược cốt lõi của quốc gia (Chính phủ, 2025), đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sau ngày 01/7/2025 có diện tích 36,36 nghìn km² và dân số 15,8 triệu người, chiếm gần 11% diện tích và 15,6% dân số cả nước (Bông Mai, 2025). ĐBSCL giữ vị trí địa - kinh tế chiến lược trong giao thương với ASEAN và tiểu vùng Mekong, đồng thời là trung tâm nông nghiệp trọng yếu khi đóng góp 95% sản lượng gạo xuất khẩu, 65% thủy sản nuôi trồng và gần 70% sản lượng trái cây toàn quốc (Quốc Thái, 2024). Dù vậy, thực tế phát triển của Vùng hiện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Trước năm 2025, tăng trưởng kinh tế Vùng dưới mức bình quân cả nước, đóng góp GRDP chỉ khoảng 12% GDP dù quy mô dân số chiếm gần 19% (Quốc Dũng, 2023); thu nhập bình quân đầu người năm 2023 đạt 72,3 triệu đồng, thấp hơn mức trung bình quốc gia (Báo Long An, 2025). Thực trạng này chủ yếu do chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm và đặc biệt là “điểm nghẽn” trong liên kết nội vùng do thiếu thiết chế phối hợp hiệu quả về quy hoạch, thu hút đầu tư lẫn phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.
Tuy nhiên, việc sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh được kỳ vọng sẽ góp phần khắc phục những “điểm nghẽn” kéo dài trong liên kết kinh tế nội vùng của ĐBSCL. Quá trình tái cấu trúc không gian hành chính, mở rộng quy mô lãnh thổ và dân số, đồng thời tinh gọn các tầng nấc trung gian trong bộ máy quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để giảm thiểu các rào cản hành chính giữa các địa phương, nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng liên vùng. Qua đó, các địa phương có điều kiện phát huy lợi thế quy mô, tăng cường tính thống nhất trong hoạch định chính sách và nâng cao năng lực điều phối phát triển vùng. Tuy nhiên, bối cảnh quản trị mới cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế liên kết vùng, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên địa phương hiệu quả và nâng cao năng lực quản trị thích ứng trước những thách thức ngày càng gia tăng, đặc biệt là tác động của biến đổi khí hậu. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng liên kết kinh tế nội vùng, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế chiến lược và thúc đẩy phát triển bền vững ĐBSCL trong giai đoạn mới.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu: (1) phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu: khai thác hệ thống văn kiện, chính sách của Đảng, Nhà nước; các báo cáo kinh tế - xã hội của Cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới (WB) và các công trình khoa học liên quan nhằm luận giải cơ chế tác động của việc tinh gọn đầu mối hành chính đến hiệu quả phân bổ nguồn lực và thúc đẩy liên kết vùng; (2) phương pháp thống kê mô tả và so sánh: sử dụng hệ thống dữ liệu định lượng về diện tích, dân số, tăng trưởng kinh tế, hạ tầng và thu hút đầu tư để đối chiếu thực trạng không gian kinh tế - hành chính của ĐBSCL trước và sau sáp nhập, từ đó nhận diện các xu hướng biến đổi trong bối cảnh mới; (3) phương pháp phân tích và tổng hợp: đánh giá các yếu tố tác động đến liên kết kinh tế nội vùng dưới áp lực tái cấu trúc đơn vị hành chính nhằm nhận diện rõ cơ hội, thách thức, qua đó tổng hợp các luận cứ thực tiễn và lý luận để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều phối vùng.
2. Kết quả và thảo luận
2.1. Một số vấn đề chung về liên kết kinh tế nội vùng
Liên kết vùng là mối quan hệ hợp tác thường xuyên, ổn định giữa các địa phương trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế khu vực, trong đó liên kết kinh tế giữ vị trí trọng tâm. Khái niệm này được biểu hiện qua nhiều hình thức như liên kết ngành, liên kết chức năng và liên kết không gian (bao gồm nội vùng và liên vùng) (Nguyễn Thị Luyến, 2023). Trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính và tái cấu trúc các không gian động lực hiện nay, thúc đẩy liên kết kinh tế nội vùng vừa mang tính cấp thiết, vừa là định hướng chiến lược cho mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.
Về bản chất, liên kết kinh tế nội vùng là sự phối hợp liên địa phương trên các lĩnh vực như: quy hoạch, đầu tư, sản xuất, thương mại và hạ tầng nhằm tối ưu hóa lợi thế bổ trợ và năng lực cạnh tranh toàn vùng. Về mặt lý luận, cơ chế này xác lập lợi thế quy mô và hiệu ứng cộng hưởng, giúp giảm thiểu đầu tư dàn trải, hình thành thị trường đủ lớn để phát triển các cụm ngành và chuỗi giá trị liên tỉnh vượt trội so với mô hình phát triển phân tán. Để đảm bảo sự vận hành hiệu quả của liên kết nội vùng đòi hỏi bốn nền tảng cốt lõi, đó là: thể chế điều phối đủ thẩm quyền; hạ tầng kết nối đồng bộ; lợi thế phát triển mang tính bổ trợ; sự cam kết đồng thuận của các chủ thể.
Ở Việt Nam, khung pháp lý về liên kết vùng dù từng bước được hoàn thiện nhưng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế do Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương chưa quy định cấp chính quyền vùng, khiến thẩm quyền quản lý hành chính vẫn tập trung ở cấp tỉnh. Hệ quả là các mô hình liên kết trước đây phần lớn chỉ mang tính tự nguyện hoặc thí điểm, thiếu cơ chế ràng buộc pháp lý và thẩm quyền điều phối thực chất. Nhằm giải quyết rào cản này, Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đã nhấn mạnh yêu cầu khẩn trương hoàn thiện thể chế liên kết vùng, đồng thời nâng cao hiệu năng hoạt động của Hội đồng điều phối vùng trong giai đoạn phát triển mới.
2.2. Thực trạng liên kết kinh tế nội vùng ở đồng bằng sông Cửu Long
Giai đoạn trước sáp nhập, ĐBSCL bước đầu hình thành các mô hình hợp tác tích cực, tiêu biểu là Sáng kiến ABCD Mekong (triển khai từ năm 2014 giữa An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp; sau mở rộng thêm Vĩnh Long, Hậu Giang) và Diễn đàn Mekong Connect thúc đẩy kết nối doanh nghiệp trong nông nghiệp, du lịch, khởi nghiệp. Dù vậy, hiệu quả liên kết giữa các địa phương trong vùng vẫn còn hạn chế do thiếu thiết chế điều phối đủ mạnh. Thực tế cho thấy, trước đây Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (2004 - 2018) chủ yếu tập trung vào công tác Đảng, còn Hội đồng vùng theo Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 06/4/2016 chỉ mang tính thí điểm, thiếu thực quyền về tài chính và pháp lý. Tư duy quy hoạch biệt lập giữa các địa phương cũng gây ra sự trùng lặp trong các lĩnh vực ưu tiên (công nghiệp chế biến, khu công nghiệp, du lịch sinh thái, cảng biển), làm phân tán nguồn lực và giảm hiệu quả phát triển toàn vùng. Thực trạng này dẫn đến nghịch lý: dư thừa công suất chế biến nhưng thiếu vùng nguyên liệu, sản phẩm du lịch thiếu tính khác biệt, cảng biển quy mô nhỏ và thiếu kết nối đồng bộ. Đặc biệt, sự yếu kém của hạ tầng logistics đã trở thành “điểm nghẽn” vượt quá năng lực xử lý đơn lẻ của từng địa phương. Trước năm 2020, mạng lưới giao thông ĐBSCL phụ thuộc lớn vào Quốc lộ 1, toàn vùng chỉ có duy nhất một tuyến cao tốc và hoàn toàn thiếu cảng nước sâu, đẩy chi phí vận tải cao hơn từ 10 - 40% so với các vùng khác trong cả nước (Tào Đạt, 2025).
Bước ngoặt tích cực trong liên kết vùng ĐBSCL được xác lập sau khi Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu và Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được ban hành. Điểm nhấn cốt lõi là Quy hoạch tích hợp vùng giai đoạn 2021 - 2030, giúp thống nhất không gian phát triển dựa trên bốn tiểu vùng sinh thái và hạn chế tối đa sự trùng lặp về ngành nghề. Về hạ tầng, các dự án giao thông trọng điểm (Trung Lương - Mỹ Thuận, Lộ Tẻ - Rạch Sỏi, cầu Mỹ Thuận 2...) được đẩy mạnh triển khai, giúp hoàn thành 05 dự án kết nối tính đến giữa năm 2024 và thiết lập lộ trình hoàn tất 13 dự án trọng điểm khác trong năm 2025 (Trần Duy Đông, 2024). Về thể chế, Hội đồng điều phối vùng (thành lập theo Quyết định số 974/QĐ-TTg ngày 19/8/2023 do một Phó Thủ tướng làm Chủ tịch) đã hỗ trợ hiệu quả 13/13 địa phương phê duyệt quy hoạch vào giữa năm 2024, thúc đẩy Quỹ phát triển hạ tầng vùng, đồng thời hiện thực hóa 27 nội dung liên kết, đạt 48% kế hoạch tính đến hết tháng 6/2024 (Trần Duy Đông, 2024). Những nỗ lực thể chế này tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế: năm 2024, GRDP vùng tăng 7,31%, vượt mức bình quân cả nước (Báo Long An, 2025); năng lực cạnh tranh cải thiện rõ rệt với 8/13 địa phương thuộc top 30 PCI toàn quốc, trong đó Long An xác lập vị trí thứ ba (Hà Giang, 2025).
Nhìn chung, trước sáp nhập, liên kết kinh tế vùng ĐBSCL dù được cải thiện nhờ chính sách và hạ tầng nhưng vẫn bị kìm hãm bởi tư duy cục bộ cùng bất cập thể chế điều phối. Bước ngoặt diễn ra từ ngày 01/7/2025 khi Vùng tinh gọn từ 13 xuống còn 05 tỉnh, thành phố. Về mặt quản trị, việc giảm đầu mối trung gian giúp rút ngắn quy trình phối hợp và đẩy nhanh tốc độ ra quyết định điều hành vùng. Nhằm kiểm soát “khoảng trống pháp lý” phát sinh hậu sáp nhập, Chính phủ đôn đốc tiến độ các dự án liên vùng và định hướng thể chế hóa bằng Luật Vùng trong tương lai. Nền tảng pháp lý này tạo cơ sở để các địa phương chủ động ký kết lại thỏa thuận phối hợp, đồng thời điều chỉnh căn bản các chương trình hợp tác nội vùng trước đây cho tương thích với bối cảnh mới. Về mặt khơi thông nguồn lực, dòng vốn và hoạt động xúc tiến dịch chuyển mạnh mẽ theo các cực tăng trưởng tích hợp. Tiêu biểu như: tỉnh Cà Mau (mới) tập trung khai thác bờ biển dài hơn 150 km cho năng lượng tái tạo và thủy sản công nghệ cao; tỉnh Vĩnh Long (mới) kết nối với Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh phát triển logistics liên vùng; thành phố Cần Thơ (mới) đạt quy mô trên 3,21 triệu dân (Bông Mai, 2025), khẳng định vị thế cực tăng trưởng quốc gia. Nhờ đó, vốn FDI vào Vùng phục hồi mạnh trong 06 tháng cuối năm 2025 với hơn 2 tỷ USD đăng ký mới, nâng quy mô lũy kế lên trên 2.000 dự án và khoảng 36,8 tỷ USD (Tào Đạt, 2025).
2.3. Cơ hội và thách thức đối với liên kết kinh tế nội vùng ở đồng bằng sông Cửu Long sau sáp nhập, hợp nhất đơn vị hành chính cấp tỉnh
2.3.1. Những cơ hội mới
Một là, không gian kinh tế - hành chính mở rộng giúp giảm thiểu sự phân tán, manh mún trong phát triển. Sau sáp nhập, diện tích và dân số các địa phương mới tăng từ 2 - 3 lần, riêng thành phố Cần Thơ (mới) tăng diện tích hơn 4 lần (Bông Mai, 2025), tạo điều kiện thuận lợi cho quy hoạch phát triển theo hướng đồng bộ trên phạm vi rộng hơn, hạn chế tình trạng chồng lấn hoặc xung đột quy hoạch giữa các địa phương liền kề. Điển hình, tỉnh An Giang (mới) có thể thống nhất quy hoạch toàn bộ tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên thành vùng phát triển tổng hợp nông nghiệp - đô thị - du lịch. Không gian này đồng thời gia tăng quy mô thị trường nội tỉnh, giúp doanh nghiệp thông suốt hoạt động sản xuất, dịch vụ nhờ loại bỏ các rào cản thủ tục liên tỉnh trước đây.
Hai là, gia tăng tính bổ trợ giúp giảm thiểu cạnh tranh trùng lặp trong định hướng phát triển giữa các địa phương. Việc hợp nhất các địa phương có thế mạnh khác biệt tạo điều kiện thiết lập chuỗi giá trị “liên hoàn” ngay trong một đơn vị hành chính. Ví dụ, tỉnh Vĩnh Long (mới) kết hợp vị trí trung tâm của Vĩnh Long (cũ), kinh tế vườn - thủy sản của Bến Tre với tiềm năng cảng biển - văn hóa của Trà Vinh để hình thành chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu khép kín. Tương tự, tỉnh Đồng Tháp (mới) sáp nhập với Tiền Giang giúp tích hợp năng lực sản xuất lúa gạo, trái cây và công nghiệp chế biến, góp phần tập trung nguồn lực và xóa bỏ tình trạng đầu tư dàn trải trước đây.
Ba là, hạ tầng và dịch vụ công liên tỉnh được tích hợp và điều phối hiệu quả hơn nhờ tinh giản đầu mối quản lý, giúp rút ngắn quy trình phối hợp và đẩy nhanh tiến độ các dự án liên vùng. Điển hình, tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau vốn đi qua bốn tỉnh nay chỉ còn liên quan đến hai địa phương là Cần Thơ (mới) và Cà Mau (mới), tạo thuận lợi lớn cho giải phóng mặt bằng, phân bổ vốn và thi công. Dự án cảng biển Trần Đề của thành phố Cần Thơ (mới) cũng được đẩy nhanh tiến độ nhờ phạm vi quản lý hành chính thống nhất hơn trước. Bên cạnh đó, cấu trúc này giúp doanh nghiệp giảm thiểu đáng kể các thủ tục hành chính liên tỉnh phức tạp khi mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh.
Bốn là, thúc đẩy phát triển kinh tế biển và tăng cường liên kết không gian đất liền - biển. Việc 100% (05/05) tỉnh, thành phố ĐBSCL đều có địa giới giáp biển thay vì mức 53,8% trước đây (Tào Đạt, 2025) giúp các địa phương như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long trực tiếp tiếp cận, khai thác lợi thế cảng biển, khu kinh tế ven biển và năng lượng tái tạo ngoài khơi. Không gian mới tạo điều kiện tập trung nguồn lực thực hiện các siêu dự án động lực như cảng nước sâu Trần Đề hoặc chuỗi công nghiệp - đô thị ven biển Bạc Liêu - Gò Công. Qua đó, mạch lưu chuyển hàng hóa nội vùng được tối ưu hóa rõ rệt, điển hình như tỉnh Đồng Tháp (mới) có thể vận chuyển nông sản ra vùng biển Gò Công trong nội tỉnh mà không vướng các thủ tục hành chính liên tỉnh phức tạp.
Năm là, củng cố liên kết văn hóa - xã hội, tạo nền tảng “sức mạnh mềm” cho sự phát triển bền vững vùng. Việc mở rộng không gian xã hội tạo điều kiện thuận lợi để phối hợp tổ chức các hoạt động, lễ hội liên tỉnh như Ok Om Bok, Nghinh Ông hay quảng bá đờn ca tài tử gắn với phát triển du lịch. Sự gắn kết này không chỉ thắt chặt tính cộng đồng mà còn kiến tạo niềm tin và sự đồng thuận xã hội - những yếu tố nền tảng đảm bảo cho liên kết kinh tế nội vùng vận hành ổn định và bền vững. Tóm lại, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh tạo tiền đề để ĐBSCL tái cấu trúc không gian phát triển, hình thành các cực tăng trưởng lớn, đẩy nhanh hạ tầng và tối ưu hóa tiềm năng kinh tế biển, logistics, văn hóa, du lịch. Tuy nhiên, để chuyển hóa cơ hội thành động lực thực chất, Vùng phải giải quyết hiệu quả các thách thức phát sinh trong giai đoạn đầu tái cấu trúc hành chính và quản trị vùng.
2.3.2. Những vấn đề đặt ra và thách thức cần giải quyết đối với vấn đề liên kết kinh tế nội vùng đồng bằng sông Cửu Long sau sáp nhập, hợp nhất
Một là, thể chế liên kết và cơ chế phối hợp vùng đang trong giai đoạn chuyển tiếp, chưa hoàn thiện. Việc chuyển dịch từ mô hình 13 xuống 05 địa phương buộc các chương trình liên kết giai đoạn 2021 - 2025 phải điều chỉnh, làm chậm tiến độ một số hoạt động kinh tế nửa cuối năm 2025 (hội chợ du lịch, diễn đàn nông sản, xúc tiến đầu tư) để chờ xác định cơ quan chủ trì. Thách thức lớn hiện nay là áp lực đồng bộ hóa hệ thống thông tin hành chính, quy hoạch và dữ liệu thống kê liên tỉnh. Sự chậm trễ hoặc thiếu thống nhất trong chuẩn hóa dữ liệu và thủ tục hậu sáp nhập sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực thi các quyết sách phát triển bền vững của Vùng.
Hai là, áp lực về nguồn nhân lực chất lượng cao và tổ chức sản xuất vẫn là thách thức lớn trong giai đoạn sau sáp nhập. Việc điều chỉnh địa giới chưa thể giải quyết ngay tình trạng thiếu hụt chuyên gia, kỹ sư và lao động kỹ thuật trình độ cao phục vụ cho các chuỗi giá trị và siêu dự án của Vùng (Thu Hiền, 2025). Đồng thời, phương thức sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ của nông hộ rất khó chuyển đổi nhanh theo hướng liên kết quy mô lớn. Nếu các thiết chế liên kết cấp cơ sở như tổ hợp tác, hợp tác xã hay hiệp hội ngành hàng vận hành kém hiệu quả, hệ thống liên kết cấp tỉnh và cấp vùng sẽ thiếu đi nền tảng vững chắc để phát triển bền vững.
Ba là, biến đổi khí hậu tiếp tục là thách thức khi việc sáp nhập hành chính không làm mất đi các nguy cơ hiện hữu như xâm nhập mặn, hạn hán, sụt lún và sạt lở (Thu Hiền, 2025). Do vậy, cần tận dụng bối cảnh mới để nâng cao hiệu quả điều phối thông qua việc tăng cường vai trò các tiểu ban chuyên môn thuộc Hội đồng điều phối vùng. Đồng thời, bộ máy tinh gọn giúp nâng cao vị thế và tiếng nói thống nhất của ĐBSCL trong các cơ chế hợp tác quốc tế về lưu vực sông Mekong cùng quản lý nguồn nước xuyên biên giới.
Bốn là, hoàn thiện khung pháp lý về liên kết vùng là yêu cầu vừa cấp bách vừa mang tính lâu dài. Hiện nay, Hội đồng điều phối vùng vận hành chủ yếu dựa trên quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thiếu một đạo luật chuyên biệt, chưa có ngân sách độc lập và thẩm quyền còn hạn chế. Để tránh nguy cơ liên kết vùng rơi vào trạng thái hình thức, cần sớm nghiên cứu ban hành Luật hoặc Nghị định về liên kết vùng với các nội dung trọng tâm: xác định thẩm quyền quyết định dự án liên tỉnh, cơ chế phân bổ ngân sách vùng, trách nhiệm tuân thủ quy hoạch chung và chế tài xử lý vi phạm cam kết. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm liên kết kinh tế nội vùng ĐBSCL phát triển ổn định và bền vững trong dài hạn.
2.4. Đề xuất giải pháp tăng cường liên kết kinh tế nội vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và nâng tầm thể chế liên kết vùng theo hướng đồng bộ, tăng hiệu lực pháp lý. Lộ trình thực hiện cần đi từ ngắn hạn là ban hành Nghị định về liên kết vùng để quy định rõ chức năng, thẩm quyền của Hội đồng điều phối, đến dài hạn là xây dựng Luật về vùng hoặc sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương nhằm xác lập địa vị pháp lý của cấp vùng trong hệ thống quản trị quốc gia. Đồng thời, cần gia tăng thực quyền cho Hội đồng điều phối vùng thông qua cơ chế bắt buộc tham gia vào quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quyền đề xuất, ưu tiên danh mục dự án liên tỉnh sử dụng ngân sách trung ương. Song song đó, cần kiện toàn bộ máy giúp việc chuyên trách có Văn phòng đặt tại thành phố Cần Thơ, kết hợp thí điểm Quỹ phát triển vùng ĐBSCL để chủ động tài chính cho đầu tư hạ tầng kết nối và các hoạt động xúc tiến chung (Võ Minh Cảnh và Đinh Tấn Phong, 2024).
Thứ hai, hoàn thiện và đồng bộ hóa công tác quy hoạch vùng và quy hoạch liên tỉnh. Cần rà soát quy hoạch của các địa phương sau sáp nhập dựa trên Quy hoạch tích hợp vùng ĐBSCL thời kỳ 2021 - 2030 nhằm bảo đảm tính thống nhất, loại bỏ sự chồng chéo và phát huy tối đa lợi thế bổ trợ giữa các khu vực. Bộ Tài chính cần phối hợp với Hội đồng điều phối vùng xây dựng Kế hoạch hành động liên kết vùng ĐBSCL giai đoạn 2025 - 2030, xác định rõ các tiểu vùng phát triển, cụm liên kết ngành và danh mục dự án trọng điểm về logistics, du lịch, tài nguyên nước, năng lượng cùng hạ tầng kết nối. Kế hoạch này phải được rà soát, cập nhật hằng năm để làm căn cứ định hướng phối hợp thống nhất giữa các bộ, ngành và địa phương trong quá trình thực hiện.
Thứ ba, đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông và logistics đồng bộ, hiện đại, thông suốt. Ưu tiên hoàn thiện mạng lưới cao tốc nội vùng nhằm đạt mục tiêu khoảng 1.300 km vào năm 2030 để kết nối thông suốt các trung tâm tỉnh lỵ, song song với nâng cấp hệ thống sân bay, cảng biển và đường sắt (Thanh Thủy, 2025). Đẩy nhanh tiến độ các tuyến trục ngang và vành đai ven biển gắn với mục tiêu thích ứng biến đổi khí hậu. Cần tập trung triển khai cảng nước sâu Trần Đề và phát triển hệ thống trung tâm logistics tại Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang, Cà Mau (gắn với cảng Hòn Khoai) để thu hút các doanh nghiệp logistics có tiềm lực. Đồng thời, khai thác tối đa lợi thế mạng lưới sông ngòi nhằm tăng cường vận tải thủy liên tỉnh, đặc biệt là tuyến vận chuyển container từ Cần Thơ, Long Xuyên (An Giang) đến Cái Mép và Cát Lái để tối ưu hóa chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa toàn vùng.
Thứ tư, thúc đẩy liên kết sâu đối với các ngành, lĩnh vực đặc thù và có lợi thế của ĐBSCL. Cần thiết lập các vùng chuyên canh liên tỉnh (lúa gạo, cây ăn trái, thủy sản) gắn liền với các trung tâm chế biến tập trung, đồng thời xây dựng bản đồ số vùng nguyên liệu tích hợp công suất chế biến làm cơ sở điều phối các dự án đầu tư mới. Nhà nước cần hỗ trợ hình thành các hiệp hội ngành hàng quy mô vùng cho các sản phẩm chủ lực (gạo, cá tra, tôm, trái cây) để tăng cường điều phối sản xuất, xúc tiến thương mại và định hình thương hiệu chung (như Gạo Mekong). Bên cạnh đó, phát triển các cụm ngành công nghiệp và kinh tế biển theo chuỗi giá trị vùng, phân định không gian chức năng hợp lý: công nghiệp chế biến nông sản tập trung tại An Giang - Cần Thơ - Đồng Tháp; năng lượng và chế biến thủy sản tại Cà Mau; logistics và công nghiệp phụ trợ tại Vĩnh Long.
Thứ năm, tăng cường liên kết giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực vùng. Cần thiết lập mạng lưới cơ sở đào tạo nghề và đại học quy mô vùng, lấy Đại học Cần Thơ làm hạt nhân, nhằm hạn chế đầu tư dàn trải và tập trung xây dựng các trung tâm đào tạo liên tỉnh thuộc nhóm ngành nông nghiệp công nghệ cao, logistics, du lịch. Các địa phương cần phối hợp đào tạo theo nhu cầu chuỗi giá trị, đẩy mạnh trao đổi giảng viên, sinh viên và áp dụng cơ chế thu hút nhân tài chung (như Quỹ học bổng Mekong). Đặc biệt, cần phát triển liên kết mở liên vùng thông qua nâng tầm hợp tác với Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ để giải quyết bài toán hạ tầng, chuỗi cung ứng; đồng thời phối hợp với Tây Nguyên và Campuchia trong thương mại biên giới, quản lý nguồn nước Mekong và di dân kinh tế.
Thứ sáu, phát huy lĩnh vực văn hóa - xã hội như một “sức mạnh mềm” thúc đẩy liên kết vùng. Cần chú trọng bảo tồn bản sắc văn hóa sông nước và sự đa dạng tộc người (Kinh, Khmer, Hoa, Chăm) để thắt chặt tính gắn kết giữa các địa phương. Duy trì tổ chức luân phiên các sự kiện, lễ hội quy mô vùng gắn liền với định hướng phát triển du lịch cộng đồng. Việc đẩy mạnh hợp tác về y tế, giáo dục và du lịch sẽ định hình rõ nét nhận thức về một ĐBSCL thống nhất, từ đó tạo sự đồng thuận xã hội vững chắc cho các chủ trương liên kết kinh tế. Bên cạnh đó, cần tăng cường ứng dụng công nghệ số thông qua xây dựng Cổng thông tin vùng nhằm tích hợp dữ liệu, bản đồ dự án, giúp minh bạch hóa tiến độ và nâng cao trách nhiệm giải trình của các chủ thể tham gia.
3. Kết luận
Việc điều chỉnh địa giới hành chính từ 13 xuống còn 05 tỉnh, thành phố tạo bước chuyển chiến lược trong tư duy quản trị và tổ chức không gian phát triển vùng ĐBSCL, giúp khắc phục triệt để tình trạng phân tán, manh mún và xác lập quy mô lớn hơn để thúc đẩy liên kết kinh tế nội vùng. Đây là cơ hội nền tảng để ĐBSCL tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đồng bộ, hiện đại, nâng cao năng lực thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, để chuyển hóa tiềm năng thành động lực thực sự, ĐBSCL cần giải quyết các rào cản về thể chế, nhân lực và năng lực điều phối trước áp lực khí hậu; trong đó, hoàn thiện khung pháp lý cho các thiết chế vùng là yêu cầu then chốt. Sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Trung ương và địa phương trong hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực sẽ là nhân tố quyết định đưa ĐBSCL trở thành vùng phát triển năng động, bền vững và có sức cạnh tranh cao trong bối cảnh mới. ■

- Báo Long An. (2025). Năm 2024: Tốc độ tăng trưởng GRDP của vùng ĐBSCL đạt 7,31%. https://baolongan. vn/nam-2024-toc-do-tang-truong-grdp-cua-vung- dong-bang-song-cuu-long-dat-7-31--a18827html.
- Võ Minh Cảnh, Đinh Tấn Phong. (2024). Hoàn thiện cơ chế điều phối vùng ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. Tạp chí Khoa học Chính trị, 4, tr. 45-53.
- Cổng thông tin điện tử Chính phủ. (2025). Nghị quyết số 306/NQ-CP ngày 05/10/2025 về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/ vbpq/2025/10/306-cp.signed.pdf.
- Quốc Dũng. (2023). Tháo gỡ nút thắt thể chế, quản trị và liên kết vùng để phát triển đồng bằng sông Cửu Long. https://nhandan.vn/thao-go-nut-that-the-che-quan-tri-va-lien-ket-vung-de-phat-trien-dong-bang-song-cuu-long-post787088.html.
- Tào Đạt. (2025). Không gian mới đưa đồng bằng sông Cửu Long phát triển. https://dantocphattrien. vietnamnet.vn/khong-gian-moi-dua-dong-bang-song- cuu-long-phat-trien-1754021522842.htm.
- Trần Duy Đông. (2024). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long sau 2 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW. Hội nghị Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Cửu Long lần 2, Cà Mau.
- Hà Giang. (2025). Long An xếp thứ 2 cải cách mạnh nhất cả nước theo PCI. https://congly.vn/long-an-xep- thu-2-cai-cach-manh-nhat-ca-nuoc-theo-pci-477725. html.
- Thu Hiền. (2025). Đồng bằng sông Cửu Long nhận diện thách thức để khơi thông nguồn lực phát triển. https:// consosukien.vn/dong-bang-song-cuu-long-nhan- dien-thach-thuc-de-khoi-thong-nguon-luc-phat-trien. htm.
- Nguyễn Thị Luyến. (2023). Thúc đẩy liên kết vùng góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Tạp chí Tài chính, 1(12), tr. 40 - 42.
- Bông Mai. (2025). [Infographic] Diện tích, dân số của 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập. https://nhandan.vn/ infographic-dien-tich-dan-so-cua-34-tinh-thanh-pho- sau-sap-nhap-post8730html.
- Quốc Thái. (2024). Nguồn nhân lực - yếu tố tiên quyết thúc đẩy phát triển đồng bằng sông Cửu Long bền vững.https://baocantho.com.vn/nguon-nhan-luc-yeu-to-tien-quyet-thuc-day-phat-trien-dbscl-ben-vung-a180915. html.
- Thanh Thủy. (2025). Thủ tướng: Đồng bằng sông Cửu Long phấn đấu có ít nhất 1.300 km cao tốc vào năm 2030. https://vneconomy.vn/thu-tuong-dong-bang- song-cuu-long-phan-dau-co-it-nhat-1-300-km-cao- toc-vao-nam-2030.htm.
Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 3 (51) - 2026