TS. NGUYỄN ĐÌNH PHONG
Học viện Chính trị khu vực II
Email: nguyenphongtl@gmail.com

 Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia được xác định là một đột phá chiến lược, quyền lực chính trị ở cấp xã đang có sự biến đổi quan trọng ở cả phương tiện thực thi và cơ chế vận hành. Trên cơ sở phân tích lý luận kết hợp với các dữ liệu thực tiễn từ Nghị quyết số 57-NQ/TW, Đề án 06, kết quả SIPAS 2024 và báo cáo chuyển đổi số ở một số đơn vị cấp xã, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm bảo đảm quyền lực chính trị ở cấp xã hiệu quả hơn, chính đáng hơn trong điều kiện phát triển mới.

Từ khóa: Quyền lực chính trị, cấp xã, chuyển đổi số, quyền lực dữ liệu, chính quyền địa phương

Political power at the commune level in the digital era - transformations in the mechanisms of implementation and policy implications in Vietnam

Abstract: In the context where national digital transformation has been identified as a strategic breakthrough, political power at the commune level in Vietnam is undergoing an important transformation in both the instruments of implementation and the mechanisms through which power operates. Based on theoretical analysis combined with empirical evidence drawn from Resolution No. 57-NQ/TW, Project 06, the 2024 SIPAS results, and digital transformation reports from several commune-level units, the article proposes several policy recommendations aimed at ensuring that political power at the commune level becomes more effective and more legitimate in the new development context.

Keywords: Political power, commune-level governance, digital transformation, data-driven power, local governance

Quang cảnh buổi làm việc của cán bộ cấp xã (Nguồn: Báo điện tử Chính phủ)

1. Đặt vấn đề

Cấp cấp chính quyền gần dân nhất, nơi quyền lực nhà nước được hiện thực hóa trực tiếp và thường xuyên nhất trong đời sống cộng đồng. Nếu ở cấp trung ương, quyền lực chính trị chủ yếu thể hiện ở năng lực hoạch định đường lối, thể chế và chiến lược phát triển, thì ở cấp xã, quyền lực ấy được cảm nhận thông qua những hoạt động quản trị cụ thể như giải quyết thủ tục hành chính, xác nhận nhân thân, quản lý đất đai, xử lý các mâu thuẫn xã hội ở cơ sở, tổ chức thực hiện chính sách và duy trì trật tự quản lý trên địa bàn. Vì vậy, khi phương thức quản trị ở cấp xã thay đổi, không chỉ kỹ thuật hành chính thay đổi mà cách thức quyền lực chính trị đi vào đời sống xã hội cũng biến đổi theo.

Trong những năm gần đây, chuyển đổi số quốc gia đã được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện, cần được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị. Trước đó, Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử, tạo nền tảng dữ liệu quan trọng cho tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Đồng thời, việc tiếp tục tổng kết và triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW về tinh gọn tổ chức bộ máy cho thấy chuyển đổi số đang gắn chặt với quá trình tái cấu trúc quyền lực nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả hơn. 

Thực tiễn quản trị cơ sở đã phản ánh ngày càng rõ xu hướng này. Theo công bố của Bộ Nội vụ, chỉ số SIPAS năm 2024 đạt trung bình 83,94%, tăng 1,28 điểm phần trăm so với năm 2023; mức độ hài lòng đối với việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách đạt 83,84% (Bộ Nội vụ, 2025; Thông tấn xã Việt Nam, 2025). Ở cấp xã, báo cáo của xã Tịnh Khê cho thấy nhiều thủ tục hành chính đã được cung cấp trực tuyến với tỷ lệ hồ sơ thực hiện trực tuyến đạt trên 99% ở một số nhóm thủ tục (Ủy ban nhân dân xã Tịnh Khê, 2025). Báo cáo của Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Long Thành ghi nhận 7.224 hồ sơ được tiếp nhận trong năm 2025, với tỷ lệ giải quyết đúng và trước hạn đạt 99,25%, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 98,54% (Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Long Thành, 2025). Ở chiều ngược lại, báo cáo từ một số địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa và khu vực còn hạn chế về hạ tầng cho thấy việc triển khai dịch vụ công trực tuyến vẫn gặp nhiều khó khăn do điều kiện kết nối, kỹ năng số của người dân và năng lực hỗ trợ tại chỗ chưa đồng đều (Cổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau, 2025). Sự khác biệt này cho thấy chuyển đổi số đang tác động trực tiếp đến cơ chế vận hành quyền lực công ở cấp gần dân nhất, nhưng kết quả triển khai chưa đồng đều giữa các địa phương. 

Từ thực tiễn đó, có thể đặt ra một số vấn đề cốt lõi: chuyển đổi số đang làm thay đổi cơ chế thực thi quyền lực chính trị ở cấp xã như thế nào; sự thay đổi đó tác động ra sao đến hiệu lực, tính chính đáng và kiểm soát quyền lực; đồng thời cần định hình những hàm ý chính sách gì để nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính chính đáng của quyền lực chính trị sở. Đây cũng chính là trọng tâm phân tích của bài viết. 

2. Cơ sở lý luận và cách tiếp cận

2.1. Một số lý thuyết về quyền lực trong kỷ nguyên số

Nghiên cứu về quyền lực trong bối cảnh số hóa đã phát triển mạnh trong những năm gần đây trên phạm vi quốc tế. Ba lý thuyết có giá trị tham chiếu đối với bài viết này gồm: quyền lực dữ liệu, quản trị nền tảng và quản trị thuật toán. Những lý thuyết này giúp nhận diện rõ hơn các cơ chế quyền lực mới đang vận hành thông qua dữ liệu, hạ tầng số và thiết kế hệ thống.

Thứ nhất, lý thuyết về “quyền lực dữ liệu” (data power) nhấn mạnh rằng khi dữ liệu cá nhân và dữ liệu xã hội trở thành nguồn lực của quản trị, quyền lực không chỉ nằm ở quyết định cuối cùng mà còn nằm ở khả năng thu thập, xác thực, kết nối, phân loại và khai thác dữ liệu để hình thành quyết định đó (Couldry & Mejias, 2019). Cách tiếp cận này gợi mở khả năng phân tích sự dịch chuyển quyền lực ở cấp xã từ kinh nghiệm hành chính và hồ sơ giấy truyền thống sang năng lực kiểm soát và vận hành dữ liệu.

Thứ hai, lý thuyết về “quản trị nền tảng” (platform governance) cho thấy các nền tảng kỹ thuật số không hoàn toàn trung tính. Thiết kế hệ thống, trình tự xử lý, điều kiện chấp nhận hay từ chối hồ sơ, quyền truy cập và cơ chế liên thông đều có thể phản ánh những lựa chọn quản trị nhất định (Gillespie, 2018). Trong khu vực công, nền tảng số vì vậy không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn là không gian mới nơi quyền lực được tổ chức và phân phối. Thứ ba, lý thuyết về quản trị thuật toán cảnh báo nguy cơ hình thành các “hộp đen” trong quản trị khi quá trình xử lý ngày càng phụ thuộc vào các hệ thống tự động hoặc bán tự động (Danaher và cộng sự, 2017). Người dân có thể nhận được kết quả xử lý hồ sơ nhưng không phải lúc nào cũng biết dữ liệu nào được sử dụng, khâu nào quyết định, ai chịu trách nhiệm và cơ chế giải trình, khiếu nại được thực hiện ra sao. Đây là vấn đề đặc biệt đáng chú ý khi xem xét kiểm soát quyền lực ở cơ sở trong môi trường số.

Tuy nhiên, khi vận dụng vào bối cảnh Việt Nam, các lý thuyết trên cần được điều chỉnh phù hợp với đặc thù thể chế. Quyền lực chính trị ở Việt Nam vận hành trong chỉnh thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, với vai trò định hướng của Đảng, tổ chức thực thi của Nhà nước và cơ chế giám sát của Nhân dân thông qua các thiết chế chính trị - xã hội. Vì vậy, bài viết sử dụng các lý thuyết quốc tế chủ yếu như công cụ tham chiếu, trong khi trọng tâm phân tích vẫn đặt trong bối cảnh thể chế và thực tiễn quản trị cơ sở ở Việt Nam.

2.2. Khung phân tích áp dụng cho cấp xã ở Việt Nam

Về bản chất, quyền lực chính trị là năng lực của một chủ thể trong việc định hướng, tổ chức và chi phối các quá trình xã hội thông qua nhà nước và các thiết chế công. Ở Việt Nam, quyền lực chính trị vận hành trong chỉnh thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Trong chỉnh thể đó, cấp xã là nơi quyền lực chính trị được chuyển hóa thành các hoạt động quản trị cụ thể nhất, nơi hiệu lực của thể chế gắn trực tiếp với sự cảm nhận và đánh giá của người dân.

Từ góc độ khoa học chính trị, cần phân biệt giữa bản chất quyền lực và cơ chế thực thi quyền lực. Bản chất của quyền lực chính trị ở cấp xã không thay đổi trong quá trình chuyển đổi số. Đó vẫn là quyền lực nhà nước được thực thi nhân danh công quyền nhằm tổ chức đời sống xã hội, bảo đảm trật tự quản lý và hiện thực hóa lợi ích công. Tuy nhiên, cơ chế thực thi quyền lực đang có sự biến đổi đáng kể. Nếu trước đây quyền lực chủ yếu vận hành theo mô hình hành chính trực tiếp, phụ thuộc nhiều vào cán bộ cụ thể, hồ sơ giấy, tiếp xúc trực tiếp và kinh nghiệm quản lý truyền thống, thì trong môi trường số, quyền lực ngày càng được thực thi thông qua dữ liệu, hạ tầng số, quy trình điện tử và các nền tảng tích hợp. 

Từ đó, bài viết đề xuất cách tiếp cận đối với quyền lực chính trị cấp xã trong kỷ nguyên số nhu sau: 

Thứ nhất là “quyền lực dữ liệu”. Đây là khả năng chi phối quá trình ra quyết định, thực thi quyết định và phân phối nguồn lực quản lý thông qua việc nắm giữ, truy cập, xác thực, xử lý và khai thác dữ liệu. Khi dữ liệu dân cư, hộ tịch, đất đai, định danh điện tử và hồ sơ hành chính trở thành nền tảng của quản trị, thì việc kiểm soát dữ liệu đồng nghĩa với việc nắm giữ lợi thế trong tác động đến quyết định công.

Thứ hai là “quyền lực nền tảng”. Đây là dạng quyền lực được mã hóa trong thiết kế hệ thống, quy trình điện tử, thứ tự xử lý, điều kiện chấp nhận hay từ chối hồ sơ và cơ chế tích hợp liên thông. Khi nền tảng số quyết định cách thức hồ sơ được xử lý, ai có quyền phê duyệt, hồ sơ nào bị trả lại và vì lý do gì, thì nền tảng đó không còn là công cụ kỹ thuật thuần túy mà đã trở thành một cấu phần của quyền lực công.

Thứ ba là “quyền lực năng lực”. Trong môi trường số, chức vụ pháp lý vẫn là yếu tố quan trọng nhưng không còn là điều kiện duy nhất bảo đảm hiệu lực quyền lực. Quyền lực thực tế ngày càng phụ thuộc vào năng lực làm chủ dữ liệu, vận hành hệ thống và xử lý quy trình điện tử của đội ngũ cán bộ. Điều đó cho thấy quyền lực không chỉ được trao bởi vị trí thể chế mà còn được hiện thực hóa thông qua năng lực số của người thực thi.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Chuyển đổi số như một quá trình tái cấu trúc quyền lực nhà nước ở cấp cơ sở

Một cách nhìn khá phổ biến hiện nay là xem chuyển đổi số chủ yếu như quá trình hiện đại hóa công cụ hành chính. Cách tiếp cận này có cơ sở, nhưng vẫn chưa phản ánh đầy đủ bản chất của vấn đề. Trên thực tế, chuyển đổi số ở cấp xã cần được đặt trong tổng thể quá trình tái cấu trúc quyền lực nhà nước đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay.

Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Bộ Chính trị cùng các kết luận, kế hoạch triển khai trong giai đoạn 2024 - 2025 đều hướng tới mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm tầng nấc trung gian, nâng cao hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả quản trị (Bộ Chính trị, 2017; Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, 2025). Đồng thời, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định chuyển đổi số không chỉ là đổi mới kỹ thuật mà là một đột phá chiến lược, một cuộc cách mạng toàn diện gắn trực tiếp với phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức phát triển (Bộ Chính trị, 2024). Điều đó cho thấy chuyển đổi số và cải cách tổ chức bộ máy không phải hai tiến trình tách biệt, mà đang cùng hội tụ ở mục tiêu tái thiết lập phương thức tổ chức và vận hành quyền lực công.

Ở cấp xã, tác động này biểu hiện đặc biệt rõ nét. Trong bối cảnh bộ máy được tinh gọn nhưng khối lượng nhiệm vụ ngày càng lớn, yêu cầu giải trình ngày càng cao và áp lực phục vụ người dân ngày càng nhanh hơn, chính quyền cơ sở khó có thể tiếp tục vận hành theo mô hình thủ công, phân tán và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân. Chuyển đổi số vì vậy trở thành điều kiện quan trọng để duy trì và nâng cao năng lực quản trị của cấp xã. Nói cách khác, chuyển đổi số không chỉ hỗ trợ hoạt động của quyền lực nhà nước ở cơ sở mà còn đang định hình lại chính phương thức tồn tại và thực thi của quyền lực đó.

3.2. Sự biến đổi cơ chế thực thi quyền lực chính trị ở cấp xã 

3.3.1. Từ quyền lực hành chính trực tiếp sang quyền lực trung gian hóa qua hệ thống

Trong mô hình quản trị truyền thống, người dân muốn tiếp cận quyền lực công phải trực tiếp đến cơ quan hành chính, gặp cán bộ, nộp hồ sơ giấy, xin xác nhận và chờ giải quyết. Trong cơ chế đó, quyền lực gắn chặt với đặc tính cá nhân của người thực thi. Thái độ, tác phong, tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn, thậm chí cả cách ứng xử của cán bộ đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết công việc. 

Trong môi trường số, quá trình này đang thay đổi căn bản. Hồ được số hóa, nộp thông qua cổng dịch vụ công, liên thông giữa các cơ sở dữ liệu, được theo dõi trạng thái xử lý và trả kết quả qua nền tảng điện tử. Báo cáo của xã Tịnh Khê cho thấy nhiều nhóm thủ tục có tỷ lệ thực hiện trực tuyến trên 99%; đồng thời, 100% văn bản trao đổi không mật được thực hiện điện tử và toàn bộ hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường mạng (Ủy ban nhân dân xã Tịnh Khê, 2025). Điều đó cho thấy quyền lực công không còn chủ yếu vận hành thông qua tiếp xúc hành chính trực tiếp mà ngày càng được “trung gian hóa” qua hệ thống số. 

Sự trung gian hóa này tạo ra hai hệ quả chính trị quan trọng. Một mặt, nó góp phần làm giảm tính tùy tiện cá nhân, thu hẹp không gian của “quyền lực mềm” dựa trên quan hệ, từ đó tăng tính chuẩn hóa trong quản trị. Mặt khác, nó cũng khiến quyền lực trở nên ít hữu hình hơn đối với người dân. Thay vì tương tác trực tiếp với một chủ thể quyền lực cụ thể, người dân ngày càng tương tác với hệ thống và quy trình điện tử. Đây là sự chuyển dịch từ mô hình quyền lực mang tính “cá nhân hóa” sang mô hình quyền lực mang tính “thiết chế hóa”.

3.2.2. Từ quyền lực kinh nghiệm sang quyền lực dữ liệu

Quyền lực công ở cấp xã trước đây chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quản lý địa bàn, như hiểu dân cư, nắm hộ khẩu, biết lịch sử đất đai và các mối quan hệ trong cộng đồng. Tuy nhiên, khi Quyết định số 06/QĐ-TTg đặt nền tảng cho việc xây dựng, kết nối và khai thác dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia, dữ liệu đã trở thành hạ tầng mới của quản trị công (Chính phủ, 2022). 

Sự thay đổi này mang ý nghĩa chính trị sâu sắc. Nếu trước đây ưu thế quyền lực thường thuộc về người “quen việc”, “quen dân” hoặc có nhiều kinh nghiệm xử lý hồ sơ giấy, thì hiện nay ưu thế đó đang chuyển dần sang những chủ thể có khả năng truy xuất thông tin nhanh, kiểm tra dữ liệu chính xác, xác thực định danh điện tử, liên thông hồ sơ và xử lý quy trình theo logic dữ liệu. Quyền lực vì thế không chỉ còn là quyền ban hành xác nhận hành chính mà còn gắn với khả năng truy cập, xác thực và vận dụng dữ liệu để hình thành quyết định công. Ở phương diện này, chuyển đổi số không chỉ thay đổi công cụ quản lý mà còn làm biến đổi chính nguồn lực nền tảng của quyền lực. Nếu trước đây nguồn lực ấy chủ yếu là giấy tờ, con dấu, kinh nghiệm quản trị và quyền giải thích thủ tục, thì hiện nay nguồn lực đó ngày càng gắn với dữ liệu sạch, khả năng liên thông và quyền kiểm soát quy trình dữ liệu.

3.2.3. Từ quyền lực một chiều sang quyền lực chịu giám sát liên tục

Trong mô hình hành chính truyền thống, cơ quan công quyền thường nắm ưu thế về thông tin. Người dân khó biết hồ sơ đang được xử lý ở đâu, do ai phụ trách và vì sao chậm trễ. Điều này khiến quyền lực công có xu hướng vận hành trong trạng thái tương đối “khép kín”. Chuyển đổi số đang làm thay đổi đáng kể trạng thái đó. Khi người dân có thể theo dõi tiến độ hồ sơ, gửi phản ánh kiến nghị qua nền tảng số, tra cứu kết quả trực tuyến và đồng thời lan truyền thông tin trên mạng xã hội, quyền lực nhà nước ở cấp xã buộc phải hoạt động trong điều kiện minh bạch hơn và chịu sự quan sát thường xuyên hơn từ xã hội.

Kết quả SIPAS năm 2024 đạt trung bình 83,94%, trong đó mức độ hài lòng đối với việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách đạt 83,84%, cho thấy sự hài lòng của người dân không chỉ là chỉ báo hành chính mà còn phản ánh mức độ chấp nhận xã hội đối với quyền lực công (Bộ Nội vụ, 2025; Thông tấn xã Việt Nam, 2025). Khi quy trình xử lý được minh bạch hơn, thời gian giải quyết được công khai và trách nhiệm được nhận diện rõ hơn, thì tính chính đáng của quyền lực công cũng được củng cố.

3.2.4. Từ quyền lực chức danh sang quyền lực năng lực

Một biến đổi quan trọng nhưng chưa được chú ý đầy đủ là sự nổi lên của năng lực số như một thành tố cấu thành quyền lực. Trong mô hình quản trị truyền thống, chức danh thường gần như đồng nhất với vị thế quyền lực. Tuy nhiên, trong môi trường số, người có chức vụ nhưng không làm chủ được hệ thống có thể không kiểm soát hiệu quả quy trình công việc; ngược lại, người nắm vững dữ liệu và nền tảng số lại có thể tạo ra ảnh hưởng thực tế lớn hơn trong vận hành quản trị.

Qua các báo cáo triển khai chuyển đổi số ở cấp xã năm 2025 có thể thấy năng lực số của đội ngũ cơ sở đang trở thành điều kiện trực tiếp quyết định hiệu lực quyền lực công (Cổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau, 2025). Trường hợp Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Long Thành cho thấy điều này khá rõ. Mặc dù tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 98,54% và tỷ lệ giải quyết đúng, trước hạn đạt 99,25%, đơn vị vẫn kiến nghị cần bổ sung nhân lực có năng lực số để hướng dẫn người dân và nâng cao tỷ lệ tự nộp hồ sơ trực tuyến (Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Long Thành, 2025). Điều đó cho thấy, ngay cả khi hạ tầng số và quy trình điện tử đã được thiết lập, hiệu lực của quyền lực công vẫn phụ thuộc quyết định vào chất lượng đội ngũ vận hành.

Từ đây có thể khẳng định rằng trong kỷ nguyên số, thể chế trao quyền chỉ là điều kiện cần; còn năng lực số của người thực thi mới là điều kiện quan trọng để quyền lực chính trị ở cấp được hiện thực hóa hiệu quả trên thực tế. 

3.3. Những vấn đề đặt ra

Quá trình tái cấu trúc quyền lực nêu trên là xu hướng tất yếu, mở ra nhiều cơ hội nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản trị ở cấp cơ sở. Tuy nhiên, quá trình này đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được nhận diện đầy đủ.

Thứ nhất, nguy cơ “chuyển đổi số hình thức” vẫn hiện hữu. Ở một số địa phương, việc số hóa mới dừng ở chuyển đổi phương tiện tiếp nhận hồ sơ mà chưa cải cách thực chất quy trình quản trị. Người dân có thể nộp hồ sơ trực tuyến nhưng vẫn phải đi lại nhiều lần, bổ sung giấy tờ trực tiếp hoặc chờ xử lý kéo dài. Khi đó, quyền lực hành chính chỉ chuyển từ “bàn giấy” sang “màn hình” mà chưa thay đổi về bản chất. Điều đáng lưu ý là chuyển đổi số hình thức có thể làm suy giảm niềm tin xã hội do tạo ra khoảng cách giữa kỳ vọng đổi mới và trải nghiệm thực tế của người dân.

Thứ hai, quá trình số hóa có nguy cơ làm gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận quyền lực công. Trong môi trường mà dịch vụ công, phản ánh kiến nghị và truy cập thông tin ngày càng phụ thuộc vào nền tảng số, những người có kỹ năng số, thiết bị và điều kiện kết nối tốt sẽ có lợi thế lớn hơn trong tiếp cận nhà nước. Ngược lại, người cao tuổi, nhóm yếu thế hoặc cư dân ở vùng còn hạn chế về hạ tầng số có thể gặp nhiều khó khăn hơn. Nếu không đi kèm các chính sách hỗ trợ mang tính bao trùm, chuyển đổi số có thể vô tình tạo ra một dạng chênh lệch mới trong quyền tiếp cận dịch vụ công và quyền tiếp cận nhà nước.

Thứ ba, quyền lực dữ liệu có thể trở thành một dạng “quyền lực ẩn”. Khi dữ liệu trở thành nền tảng của quá trình ra quyết định, thì sai lệch dữ liệu, thiếu minh bạch trong quyền truy cập hoặc không thể truy vết thao tác trong hệ thống đều có thể dẫn tới sai lệch quyền lực. Khác với quyền lực hành chính truyền thống, quyền lực dữ liệu khó nhận diện hơn vì nó vận hành thông qua các thao tác kỹ thuật và các “điểm nút” trong hệ thống số. Người dân có thể biết hồ sơ bị trả lại nhưng khó xác định rõ nguyên nhân, chủ thể chịu trách nhiệm hay khâu xử lý phát sinh vấn đề. Điều này đặt ra yêu cầu mới đối với kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp xã, không chỉ kiểm soát người có chức vụ mà còn phải kiểm soát cách thức thiết kế và vận hành hệ thống. 

Thứ tư, khoảng cách giữa yêu cầu chuyển đổi số và năng lực thực tế của đội ngũ cán bộ cấp xã vẫn còn khá lớn. Chuyển đổi số làm gia tăng đáng kể yêu cầu đối với người thực thi quyền lực ở cơ sở. Ngoài kiến thức pháp luật, chuyên môn và hiểu biết địa bàn, cán bộ cấp xã còn phải có tư duy dữ liệu, kỹ năng thao tác số, khả năng tương tác đa kênh và năng lực giải trình trong môi trường số. Nếu năng lực đội ngũ không theo kịp yêu cầu chuyển đổi, sẽ xuất hiện tình trạng “công cụ đi trước con người”, từ đó làm giảm hiệu lực vận hành của toàn bộ hệ thống quản trị cơ sở. 

4. Kết luận và khuyến nghị

Chuyển đổi số đang làm biến đổi sâu sắc cơ chế thực thi quyền lực chính trị ở cấp xã. Sự biến đổi đó không nằm ở việc quyền lực nhà nước bị suy giảm, mà ở sự chuyển dịch từ mô hình quyền lực hành chính trực tiếp sang mô hình quyền lực dữ liệu - nền tảng - năng lực. Trong bối cảnh mới, dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng của quyền lực; nền tảng số trở thành không gian tổ chức và vận hành quyền lực; còn năng lực số trở thành điều kiện để quyền lực được hiện thực hóa hiệu quả trên thực tế.

Từ góc độ đó, có thể khẳng định rằng chuyển đổi số ở cấp xã không chỉ là quá trình hiện đại hóa công cụ quản lý, mà thực chất là quá trình tái cấu trúc quyền lực nhà nước ở cấp cơ sở. Trong kỷ nguyên số, quyền lực chính trị không chỉ thể hiện ở quyền ra quyết định, mà còn bao gồm năng lực thiết kế, vận hành và kiểm soát hệ thống tạo ra quyết định. Nhận thức đúng bản chất này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, bởi nó góp phần định hướng quá trình cải cách nhà nước theo yêu cầu vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, vừa tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tính chính đáng của quyền lực công. 

Từ những phân tích trên, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi số ở cấp xã diễn ra theo hướng thực chất, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển mới. 

Thứ nhất, cần chuyển từ tư duy “số hóa thủ tục” sang tư duy tái cấu trúc cơ chế thực thi quyền lực. Chuyển đổi số ở cấp xã không nên chỉ dừng ở việc chuyển hồ sơ giấy sang môi trường điện tử, mà cần bắt đầu từ việc rà soát lại toàn bộ quy trình vận hành quyền lực công, xác định những khâu chồng chéo, những điểm dễ phát sinh tính tùy tiện, những nội dung có thể chuẩn hóa và những quy trình cần minh bạch hóa trạng thái xử lý. Vì vậy, tiêu chí đánh giá chuyển đổi số không nên chỉ căn cứ vào tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, mà cần gắn với khả năng giảm thiểu không gian tùy tiện, nâng cao năng lực truy vết trách nhiệm và cải thiện trải nghiệm của người dân trong quá trình tiếp cận dịch vụ công. 

Thứ hai, cần xác lập năng lực số như một tiêu chuẩn cấu thành năng lực cán bộ cấp xã. Trong điều kiện Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực cho chuyển đổi số quốc gia, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà cần trở thành tiêu chí trong tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, bố trí và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở (Bộ Chính trị, 2024). Đối với các địa bàn còn khó khăn về điều kiện kinh tế - xã hội và hạ tầng số, cần có cơ chế đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và luân chuyển nguồn lực phù hợp nhằm khắc phục tình trạng hạ tầng đã được đầu tư nhưng đội ngũ chưa đủ năng lực vận hành hiệu quả. 

Thứ ba, cần xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực dữ liệu phù hợp với đặc thù thể chế ở Việt Nam. Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng trở thành nền tảng của quá trình ra quyết định công, kiểm soát quyền lực không thể chỉ dừng ở kiểm tra hồ sơ giấy hay giám sát hành vi hành chính trực tiếp, mà phải mở rộng sang kiểm soát quá trình vận hành của hệ thống số. Những nội dung cần được giám sát bao gồm quyền truy cập dữ liệu, quyền chỉnh sửa thông tin, quyền phê duyệt, quyền khóa hoặc mở dữ liệu, lịch sử thao tác cũng như trách nhiệm của từng khâu xử lý trong quy trình điện tử. Cùng với cơ chế kiểm tra, giám sát của Đảng, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan chức năng, cần bổ sung các công cụ truy vết kỹ thuật để bảo đảm mọi thao tác trong hệ thống đều được ghi nhận và có thể kiểm tra khi cần thiết. 

Thứ tư, cần bảo đảm tính bao trùm trong tiếp cận quyền lực số. Thành công của chuyển đổi số không nên được đo lường đơn thuần bằng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, mà cần được đánh giá ở khả năng để mọi người dân, kể cả nhóm yếu thế, có thể tiếp cận và thực hiện quyền của mình một cách thuận lợi. Điều này đòi hỏi phải duy trì song song các hình thức hỗ trợ trực tiếp, phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng, xây dựng các điểm hỗ trợ tại chỗ và duy trì phương thức giao tiếp công vụ thân thiện, dễ tiếp cận. Nếu thiếu các cơ chế hỗ trợ phù hợp, chuyển đổi số có thể trở thành một rào cản mới trong quan hệ giữa chính quyền và người dân, thay vì trở thành công cụ nâng cao chất lượng phục vụ công. 

Thứ năm, cần gắn chuyển đổi số với nâng cao tính chính đáng của quyền lực ở cơ sở. Một hệ thống xử lý nhanh nhưng thiếu minh bạch, khó tiếp cận thông tin và hạn chế khả năng giải trình sẽ khó tạo dựng niềm tin xã hội bền vững. Ngược lại, một chính quyền số có khả năng giải thích rõ quy trình, minh bạch hóa trách nhiệm và thể hiện tinh thần phục vụ sẽ góp phần củng cố sự chấp nhận xã hội đối với quyền lực công. Vì vậy, cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng văn hóa công vụ cần được đặt trong cùng một chỉnh thể chính sách nhằm hướng tới một nền quản trị vừa hiệu lực, hiệu quả, vừa minh bạch và chính đáng hơn trong điều kiện phát triển mới. ■

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW. (2025). Kết luận và kế hoạch triển khai sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Hà Nội.

2. Bộ Chính trị. (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Hà Nội.

3. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Hà Nội.

4. Bộ Nội vụ. (2025). Công bố kết quả Chỉ số hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2024 (SIPAS 2024). Hà Nội.

5. Chính phủ. (2022). Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Hà Nội.

6. Cổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau. (2025). Báo cáo kết quả triển khai thực hiện chuyển đổi số 6 tháng đầu năm 2025. https://files-vnportal.camau.gov.vn.

7. Couldry, N., & Mejias, U. A. (2019). The costs of connection: How data is colonizing human life and appropriating it for capitalism. Stanford University Press.

8. Danaher, J., Hogan, M. J., Noone, C., Kennedy, R.,Behan, A., De Paor, A., ... & Shankar, K. (2017). Algorithmic governance: Developing a research agenda through the power of collective intelligence. Big Data & Society, 4(2), 1-21.

9. Gillespie, T. (2018). Custodians of the internet: Platforms, content moderation, and the hidden decisions that shape social media. Yale University Press.

10. Thông tấn xã Việt Nam. (2025). Chỉ số SIPAS năm 2024 đạt trung bình 83,94%. https://infographics.vn.

11. Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Long Thành, tỉnh Đồng Nai. (2025). Báo cáo kết quả chuyển đổi số năm 2025. 

12. Ủy ban nhân dân xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi. (2025). Báo cáo giám sát hoạt động hành chính năm 2025. 

    

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 3 (51) - 2026