TS LƯƠNG NGỌC VĨNH
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
(TTKHCT) - Các nhà tư tưởng tiến bộ trên thế giới đều cho rằng quyền lực nhà nước (QLNN) thuộc về nhân dân. Nhưng nhân dân muốn thực thi quyền lực lại phải lập ra nhà nước, trao quyền cho nhà nước để quản lý chính mình. Để kiểm soát QLNN, nhiều quốc gia sử dụng cơ chế “tam quyền phân lập” nhằm ngăn chặn hành vi lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực công để phục vụ lợi ích cho cá nhân hoặc một nhóm người nào đó. Ở Việt Nam, các quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp là thống nhất, có sự phân công phối hợp và giám sát lẫn nhau. Vậy ai sẽ quản lý QLNN? Thực tiễn cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý, đủ khả năng và điều kiện để trở thành cơ quan kiểm soát tối cao đối với QLNN. Tuy nhiên muốn thực hiện được điều đó, Đảng phải tự mình trở nên thật sự trong sạch, vững mạnh, phải tự kiểm soát được chính mình và phải phát huy được vai trò kiểm soát của nhân dân.
1. Tính tất yếu khách quan của kiểm soát quyền lực
Quyền lực là sức mạnh mà cá nhân hoặc tổ chức có thể sử dụng để chi phối hoặc có những tác động lên các cá nhân hoặc tổ chức, cộng đồng khác và bắt họ tuân theo. Có nhiều loại quyền lực khác nhau như: quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quyền lực tư tưởng…Trong đó, quyền lực chính trị là quyền quyết định, định đoạt những công việc quan trọng về chính trị, tổ chức và hoạt động để bảo đảm sức mạnh thực hiện quyền lực ấy của một giai cấp, một chính đảng, tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền lãnh đạo; định đoạt, điều hành bộ máy nhà nước, cai quản một xã hội. Trong quyền lực chính trị thì QLNN có sức mạnh lớn nhất, vì nó được bảo đảm bởi sức mạnh kinh tế, pháp luật và các công cụ bạo lực như cảnh sát, quân đội. Mặc dù sức mạnh QLNN là do Nhân dân ủy quyền, nhưng khi có quyền lực thì xu thế lạm quyền, lợi dụng quyền lực rất dễ xảy ra, do đó các quốc gia trên thế giới đều phải xây dựng cơ chế để kiểm soát quyền lực.
Kiểm soát quyền lực có nghĩa theo dõi, kiểm tra, giám sát nhằm làm cho người được giao quyền lực không thể lợi dụng quyền lực để phục vụ mục đích cá nhân, từ đó sinh ra các hành vi cửa quyền, lạm quyền, lộng quyền trong thực thi quyền lực. Kiểm soát QLNN là không để những người trong bộ máy hành chính nhà nước sử dụng quyền lực công vượt quá giới hạn cho phép nhằm vụ lợi cho cá nhân, lợi ích của nhóm mình. Kiểm soát quyền lực là đảm bảo cho quyền lực được thực hiện đúng nơi, đúng chỗ.
Theo Rousseau, nhà nước được lập nên bởi một khế ước do mọi người dân đồng thuận, trao quyền lực chính trị cho chính quyền là những người để điều hành đất nước theo nguyện vọng và ý chí tập thể. Quyền lực chính trị của chính quyền sẽ bị thu hồi bất kỳ lúc nào nếu chính quyền không làm đúng chức năng được người dân giao phó. Như vậy, QLNN không phải là quyền lực tự có của nhà nước mà là quyền lực của nhân dân, được nhân dân ủy quyền, nhân dân giao quyền. Nhân dân không trực tiếp thực hiện QLNN của mình mà lại giao cho nhà nước thay mình thực hiện, nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát QLNN.
V.I.Lênin cho rằng: sự tha hóa QLNN là biến quyền lực chính trị của giai cấp thành quyền lực của bộ máy, biến “bộ máy phục vụ chính trị” thành “chính trị phục vụ bộ máy”1; biến quyền lực của nhà nước thành quyền lực của cá nhân hay của các nhóm quyền lực làm méo mó mục đích tự thân của QLNN; biến quyền lực chính trị của giai cấp thành quyền lực của giai cấp hiểu theo nghĩa hẹp hòi, ích kỷ; biến quyền lực của giai cấp tiên tiến “đại biểu” cho xã hội trong thời đại đó, thành quyền lực của giai cấp đã lỗi thời, phản động… Vì vậy, người dân sau khi đã ủy quyền cho cơ quan nhà nước thì vẫn phải có quyền kiểm soát bộ máy nhà nước đó để không bị mất quyền, lạm quyền.
Theo John Stuart Mill, QLNN là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước suy cho cùng là giao cho những con người cụ thể thực thi. Mà hành động của con người thì luôn luôn chịu sự tác động của các loại tình cảm và dục vọng khiến cho lý tính đôi khi bị chìm khuất2. Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi dục vọng, thói quen hay tình cảm thì khả năng sai lầm trong việc thực thi QLNN là khó tránh khỏi. Với đặc điểm đó, không thể khẳng định người được ủy quyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân đã ủy quyền. Vì vậy, kiểm soát QLNN là một nhu cầu khách quan từ phía người ủy quyền là nhân dân đối với người được ủy quyền là nhà nước để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, mâu thuẫn chồng chéo hoặc trùng lắp trong quá trình thực thi QLNN giữa các cơ quan nhà nước.
Theo Trần Ngọc Đường, một thực tế khách quan thường xảy ra là trong quan hệ với QLNN, công dân không được bình đẳng về thông tin3. Hơn nữa, nhà nước là tổ chức duy nhất có thuộc tính cưỡng chế. “Thuộc tính cưỡng chế mang lại cho nhà nước quyền lực can thiệp một cách có hiệu quả vào các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, nhưng với độc quyền này, nhà nước có thể can thiệp một cách độc đoán, chuyên quyền, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Quyền này cộng với bất bình đẳng về thông tin giữa dân chúng và nhà nước tạo ra những cơ hội cho các công chức xúc tiến những lợi ích của riêng họ hay những bạn bè đồng minh của họ, làm thiệt hại cho lợi ích chung. Những khả năng kiếm lợi và tham nhũng là rất lớn”4.
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, xã hội càng trở nên hiện đại, QLNN lại càng phải có sự phân công, phối hợp và kiểm soát. Đây là một yêu cầu khách quan do sự phân công lao động xã hội, do tính chuyên nghiệp hóa của hoạt động quyền lực. Khả năng sai lệch trong nhận thức và thực thi QLNN, khả năng sử dụng quyền lực thiếu hiệu quả là có thể xảy ra. Hơn nữa, con người bị điều khiển bởi nhiều khát vọng, trong đó có khát vọng về quyền lực vừa là mục tiêu, vừa là công cụ để đạt được các khát vọng khác. Hobbes nhấn mạnh: “Tinh thần vị kỷ trong loài người là một khát vọng không ngừng đối với quyền lực và điều này chỉ mất đi khi con người chết”5. Do đó, không thể khẳng định người được ủy quyền luôn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân. Vì vậy, trong tổ chức QLNN cần phải kiểm soát một cách chặt chẽ những con người làm việc trong bộ máy QLNN, để có thể phát hiện và xử lý khi những người này không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
Trên thế giới, người ta đã tìm ra nhiều cách để kiểm soát QLNN từ rất sớm. Cách phổ biến nhất được Montesquieu xây dựng, được cải tiến, hoàn thiện và áp dụng phổ biến ở các nước phương Tây là cơ chế “tam quyền phân lập”. Theo đó, các nhánh quyền lực trong bộ máy hành chính nhà nước độc lập và kiểm soát lẫn nhau, tất cả đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân bằng pháp luật.
Như vậy, QLNN thực chất là quyền lực của nhân dân, do nhân dân ủy nhiệm. Nhưng quyền lực rất dễ bị tha hóa nên sau khi đã giao quyền cho nhà nước thì nhân dân rất khó kiểm soát được quyền lực một cách đầy đủ. Chính vì vậy, bên cạnh sự kiểm soát của nhân dân, đòi hỏi các cơ quan quyền lực trong bộ máy nhà nước phải kiểm soát lẫn nhau.
2. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ khi lập nước, vấn đề kiểm soát QLNN đã sớm được quan tâm. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” đã được nghiên cứu xây dựng và thực thi. Vai trò của Nhân dân trong kiểm soát quyền lực đã được quy định trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật khá chặt chẽ và chi tiết. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã được thực thi ngày càng thực chất hơn.
Tuy nhiên, cho đến nay, kiểm soát QLNN vẫn chưa thật sự hiệu quả, dẫn đến không ít cơ quan, cán bộ nhà nước lợi dụng quyền lực công để phục vụ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm thể hiện qua các hành vi tham nhũng diễn ra trong nhiều năm qua. Vì vậy, tìm kiếm một cơ chế kiểm soát QLNN đang là một vấn đề rất bức thiết. Một trong ba đột phá chiến lược mà Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “đẩy mạnh phân cấp phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật”6.
Có thể nói, ở Việt Nam hiện nay vẫn đang tìm đáp án cho câu hỏi: thể chế nào có thể kiểm soát QLNN hữu hiệu nhất. Nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến vai trò kiểm soát thông qua bầu cử, bằng Hiến pháp, bằng các cơ quan trong bộ máy nhà nước và kiểm soát của Nhân dân7. Những vấn đề này thực ra không mới vì đã và đang được thực thi ở Việt Nam, nhưng một câu hỏi đặt ra là tại sao việc kiểm soát QLNN vẫn chưa hiệu quả, vẫn nảy sinh nhiều sai phạm.
Thực tiễn cho thấy, muốn kiểm soát quyền lực phải có tổ chức ngang bằng hoặc mạnh hơn về quyền lực. Với thể chế chính trị hiện tại và trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII thì không thể tạo ra một tổ chức nào khác mà chỉ có thể sử dụng các tổ chức bộ máy hiện tại để kiểm soát QLNN.
Hiện nay, trong hệ thống chính trị của Việt Nam, với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; Đảng Cộng sản Việt Nam là cơ quan lãnh đạo toàn diện trong hệ thống chính trị cho nên Đảng phải là đối tượng kiểm soát chứ không thể là cơ quan kiểm soát quyền lực. Tuy nhiên, nghiên cứu sâu vấn đề này, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định: Đảng cùng với Nhân dân là hai chủ thể kiểm soát QLNN một cách hữu hiệu nhất. Vấn đề Nhân dân kiểm soát quyền lực đã được nghiên cứu khá nhiều, ở đây chỉ bàn đến cơ sở khoa học của việc phát huy vai trò kiểm soát QLNN của Đảng.
Một là, Đảng có đủ căn cứ pháp lý để kiểm soát QLNN
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước. Trong nội hàm của thuật ngữ lãnh đạo đã bao gồm các nội dung: xác định cương lĩnh, đường lối; tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát; sơ tổng kết, rút kinh nghiệm. Như vậy, Đảng lãnh đạo Nhà nước thì đương nhiên phải kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của Nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực công. Lãnh đạo là phải kiểm soát nhưng là kiểm soát về tinh thần, tư tưởng; kiểm soát không phải bằng mệnh lệnh hành chính mà bằng công tác giáo dục, thuyết phục và nêu gương.
Điều lệ Đảng khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tức là đảng thực thi quyền lực chính trị của các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội bằng cách tham gia vào Nhà nước, tổ chức nhà nước...Đảng cầm quyền có nghĩa là Đảng phát huy vai trò Nhà nước là công cụ quản lý đại diện của dân để thực hiện QLNN.
Như vậy, cả hai văn bản mang tính pháp lý cao nhất của Nhà nước và trong nội bộ Đảng đều khẳng định: Đảng là cơ quan kiểm soát quyền lực, do đó Đảng không thể không thực hiện trách nhiệm đó của mình. Đó là trọng trách mà Nhân dân giao phó; là tôn chỉ, mục đích của Đảng; là phương thức sử dụng QLNN để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.
Hai là, Đảng có đủ khả năng để kiểm soát cơ quan nhà nước
Như trên đã khẳng định, Đảng có căn cứ pháp lý để thực thi nhiệm vụ kiểm soát QLNN, nhưng vấn đề là Đảng có đủ khả năng để kiểm soát quyền lực hay không, bởi Đảng cũng chính là cơ quan quyền lực, thậm chí là tổ chức sử dụng quyền lực mạnh là Nhà nước. Cần hiểu rằng, chỉ có thể kiểm soát QLNN bằng một cơ quan quyền lực khác mạnh hơn, chí ít cũng phải bằng cơ quan QLNN. Kiểm soát quyền lực có thể bằng sức mạnh bạo lực, kinh tế hoặc bằng uy tín, bằng sức hấp dẫn của nhân cách, tư tưởng. Đảng kiểm soát QLNN không phải ở sức mạnh bạo lực mà bằng sự hấp dẫn của lý tưởng và giá trị mà Đảng theo đuổi, thể hiện trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng. Sức mạnh của Đảng còn ở niềm tin yêu của Nhân dân qua những tấm gương chiến đấu hy sinh của đảng viên và những lợi ích mà Đảng mang lại cho Nhân dân, cho đất nước. Nếu Đảng giữ cho mình luôn tiên phong về trí tuệ, “là đạo đức, là văn minh” thì đó chính là sức mạnh đủ để kiểm soát QLNN.
Nếu sử dụng sức mạnh cưỡng chế để kiểm soát QLNN thì dễ nảy sinh những hệ lụy tiêu cực như: đối phó, trốn tránh, thậm chí phản kháng. Nhưng kiểm soát quyền lực bằng uy tín, bằng sự gương mẫu, hy sinh thì sự kiểm soát đó được phục tùng một cách tự nguyện, tự giác, xuất phát từ động cơ tích cực từ bên trong nên chất lượng của sự phục tùng đạt hiệu quả cao.
Người có quyền lực từ sức mạnh bạo lực, sức mạnh kinh tế thì thường có xu hướng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực. Nhưng người có quyền lực từ uy tín thì bản thân cái tạo nên uy tín đó không có phép người ta hủy hoại uy tín của chính mình. Nếu lợi dụng uy tín của mình để vun vén lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đi ngược với lợi ích xã hội thì uy tín đó sẽ nhanh chóng sụp đổ. Như vậy, Đảng kiểm soát quyền lực chính là để bảo vệ uy tín của chính mình và thông qua đó mà duy trì sự lãnh đạo của mình. Nếu Đảng không làm được điều này thì uy tín của Đảng sẽ giảm sút và Đảng đứng trước nguy cơ mất quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội. Do đó, kiểm soát QLNN là tiền đề, là điều kiện tiên quyết của một đảng cầm quyền. Nếu Đảng để cán bộ, đảng viên của mình tha hóa bởi quyền lực là đang tự chặt đi đôi chân của mình.
Ba là, Đảng có cơ chế để kiểm soát QLNN
Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc ban hành các chủ trương, đường lối và buộc Nhà nước phải triển khai thực hiện theo định hướng của mình, đó là sự kiểm soát QLNN một cách rõ ràng nhất. Bên cạnh đó, Đảng có quyền lựa chọn những đảng viên ưu tú ra ứng cử để Nhân dân bầu vào cơ quan nhà nước. Thông qua cơ chế này, Đảng quản lý đảng viên, đồng thời cũng kiểm soát để đảng viên nắm giữ quyền lực trong các cơ quan nhà nước mà không bị tha hóa. Nói cách khác, Đảng kiểm soát quyền lực cũng chính là kiểm soát đảng viên của mình. Thông qua thực hiện tốt nguyên tắc tập trung, dân chủ và công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong Đảng, hoàn toàn có thể hạn chế được thói cửa quyền, lộng quyền, lạm quyền, lợi dụng quyền lực của cán bộ, đảng viên. Thông qua việc thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình, có thể dễ dàng phát hiện những biểu hiện tha hóa bởi quyền lực của cán bộ, đảng viên. Khi cán bộ, đảng viên nắm giữ các cơ quan QLNN mắc sai lầm, Đảng tiến hành kiểm điểm và xử lý bằng các hình thức kỷ luật thích đáng vừa để trừng phạt, vừa để giáo dục, răn đe đảng viên khác.
Bốn là, Đảng có kinh nghiệm trong kiểm soát QLNN
Thực tế những năm qua đã khẳng định, Đảng là người kiểm soát, có cơ chế kiểm soát và đủ khă năng kiểm soát QLNN. Trong xu thế dân chủ hóa đời sống chính trị, Đảng từng bước xác lập vị trí của một đảng cầm quyền, Đảng đứng ở vị trí lãnh đạo, dẫn dắt và kiểm soát chứ không làm thay Nhà nước. Vai trò của Nhà nước pháp quyền ngày càng được khẳng định và được đề cao, phát huy trên thực tế. Đảng đã ban hành nhiều văn bản để ngăn chặn cán bộ, đảng viên không bị tha hóa bởi quyền lực, như: từng bước hoàn thiện Điều lệ Đảng, quy định về trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; phát động phong trào học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Quy định số 213-QĐ/TW ngày 02/01/2020 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú… Khi phát hiện cán bộ, đảng viên nắm giữ các cơ quan QLNN sai phạm, Đảng tiến hành xử lý nghiêm khắc và công khai, ngay cả cán bộ lãnh đạo cao cấp. Nhờ đó uy tín của Đảng được phục hồi, sức mạnh kiểm soát quyền lực không những được củng cố mà còn từng bước được nâng lên.
3. Một số giải pháp phát huy vai trò của Đảng và Nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước
3.1. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Đảng trong kiểm soát quyền lực nhà nước
Thứ nhất, nâng cao uy tín và năng lực kiểm soát quyền lực của Đảng
Như trên đã nói, sức mạnh kiểm soát QLNN của Đảng là ở uy tín, sức hấp dẫn của hệ tư tưởng và sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Là cơ quan kiểm soát quyền lực, đòi hỏi bản thân người kiểm soát phải thật trong sáng, vô tư, đặt lợi ích của Nhân dân, quốc gia và dân tộc lên trên hết. Do những hạn chế trong công tác cán bộ, nhiều trường hợp người không có đủ phẩm chất, năng lực nắm giữ các cương vị quản lý trong bộ máy Nhà nước dẫn đến tình trạng cán bộ cửa quyền, lộng quyền, lợi dụng chức quyền để vun vén lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Muốn kiểm soát tốt QLNN, Đảng cần làm tốt công tác cán bộ thì mới ngăn chặn được tình trạng đảng viên trong bộ máy nhà nước bị tha hóa bởi quyền lực. Đảng phải tự mình trở nên có quyền lực bằng sự hấp dẫn của tư tưởng và sự gương mẫu của đảng viên. Bên cạnh đó phải gắn trách nhiệm của Đảng đối với việc tha hóa QLNN. Ở đâu, cơ quan chính quyền nào có cán bộ, nhân viên lộng quyền, lạm quyền, cửa quyền thì trước hết trách nhiệm thuộc về cấp ủy ở đó.
Thứ hai, hoàn thiện và thực thi có hiệu quả cơ chế kiểm soát nội bộ
Đảng là cơ quan kiểm soát QLNN, như vậy Đảng có quyền lực gián tiếp đối với xã hội. Mặc dù sức mạnh của Đảng là uy tín, sự gương mẫu, nêu gương, sự hấp dẫn của tư tưởng, đường lối, nhưng vì cầm quyền nên Đảng hoàn toàn có thể lấn sân, dùng uy tín của mình để can thiệp vào cơ quan nhà nước. Muốn khắc phục tình trạng này, Đảng phải thực hiện cơ chế “kiểm soát nội bộ” bằng các hình thức sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình, hoạt động kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng từ chi bộ đến Trung ương theo Điều lệ Đảng. Trong đó, quan trọng nhất là Đảng phải sớm phát hiện mầm mống sai phạm thông qua tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng và công tác giám sát đảng viên. Tuy nhiên, hiện nay công tác này vẫn còn nhiều bất cập, tính dân chủ, tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều vụ việc sai phạm nghiêm trọng của cán bộ, đảng viên không được phát hiện từ chi bộ mà phải thông qua cơ quan chức năng và báo chí. Hiện tượng thờ ơ, vô cảm, né tránh, “chung sống hòa bình” với sai phạm của đồng chí mình, sợ hãi quyền lực trong các tổ chức đảng còn khá phổ biến. Để thực hiện được vai trò kiểm soát QLNN, Đảng buộc phải tự đào thải những “con sâu làm rầu nồi canh”, phải kiên quyết và thẳng tay loại trừ những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng.
Thứ ba, huy động Nhân dân tham gia vào quy trình ban hành nghị quyết và giám sát đảng viên
Đảng cần phát huy vai trò của Nhân dân kiểm soát thông qua việc khảo sát, đánh giá, tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo để lấy ý kiến góp ý, đề xuất để nâng cao chất lượng các nghị quyết của Đảng theo tinh thần “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân”8. Tạo điều kiện cho Nhân dân trực tiếp góp ý cho cán bộ, đảng viên về phẩm chất, đạo đức, lối sống, hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Kịp thời giải quyết, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân, của đảng viên. Thực hiện công khai tài sản, thu nhập của cán bộ lãnh đạo, quản lý trên các phương tiện truyền thông đại chúng; cổng thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị; thông qua họp báo, hội nghị, hội thảo, sinh hoạt chi bộ, thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội; gửi văn bản hoặc bằng các hình thức khác, để Nhân dân dễ biết, dễ giám sát cán bộ.
3.2. Phát huy vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước của Nhân dân
Thứ nhất, bổ sung “dân bầu” vào phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng”
Hiện nay, Nhân dân thực hiện quyền làm chủ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và các quy định được ghi trong Hiến pháp 2013 và hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Bên cạnh việc xây dựng chính quyền “của dân, do dân, vì dân”, Nhân dân còn thực hiện kiểm soát QLNN thông qua các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội... Tuy nhiên, để phát huy hơn nữa vai trò của Nhân dân cần bổ sung vào phương châm nói trên chữ “dân bầu” sau chữ “dân biết”. Bởi chỉ khi nào người dân có đầy đủ thông tin, thực hiện nghiêm túc, thực chất quyền bầu cử đại diện của mình vào cơ quan nhà nước các cấp, Nhân dân mới thực sự thể hiện quyền lực của mình. Hiện nay, việc tổ chức bầu cử Quốc hội và hội đồng Nhân dân các cấp đã được thực hiện theo quy trình dân chủ thực sự. Các nhiệm kỳ vừa qua, Nhân dân đã bầu được Quốc hội có chất lượng, hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, quyền lực này cần được phát huy hơn nữa để ngăn chặn lọt vào các cơ quan đại diện quyền lực của dân những người thiếu năng lực, thoái hóa, biến chất. Nhân dân không chỉ thực hiện quyền bầu cử trực tiếp mà cần có cơ chế thực hiện quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với người đại diện của mình.
Thứ hai, xây dựng chỉ báo niềm tin của Nhân dân với các cơ quan nhà nước
Niềm tin của Nhân dân là vốn xã hội của một chính phủ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XII: “hợp lòng dân, thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Nhưng niềm tin chỉ trở thành sức mạnh trong kiểm soát QLNN thông qua các chỉ báo sự gia tăng hoặc giảm sút niềm tin của Nhân dân với các cơ quan nhà nước. Sự biến động này có thể là sự động viên, khích lệ nhưng đồng thời là sự cảnh báo, răn đe đối với các cơ quan nhà nước. Nhiều nước trên thế giới đã có các tổ chức nghiên cứu dư luận xã hội độc lập và thường xuyên công khai chỉ số về niềm tin của công chúng với chính quyền hoặc cá nhân người đứng đầu chính phủ. Hiện nay, Đảng đã có cơ quan nghiên cứu dư luận xã hội nhưng mới phục vụ cho công tác lãnh đạo nội bộ Đảng. Vì vậy, cần nghiên cứu các tiêu chí về niềm tin, quy trình thu thập thông tin và cơ chế công bố chỉ số về niềm tin của Nhân dân đối với chính quyền các cấp.
Thứ ba, nâng cao nhận thức và năng lực của Nhân dân về quyền kiểm soát đối với của cơ quan quản lý nhà nước
Hiện nay, Nhân dân có cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân; có hệ thống pháp luật, có Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để kiểm soát QLNN. Tuy nhiên, vai trò kiểm soát quyền lực của Nhân dân có thực thi được hay không chủ yếu quyết định là ý thức làm chủ của Nhân dân. Trên thực tế, nhận thức và năng lực làm chủ của đa số người dân vẫn còn hạn chế, nhiều trường hợp người dân không biết được mình có những quyền gì. Vẫn còn không ít người dân không biết điều kiện để được ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân là gì, không đi bầu cử có bị phạt hay không, không biết nhiều về hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, của các cơ quan nhà nước. Nhiều trường hợp người dân không hiểu quy định của pháp luật nên khiếu kiện vượt cấp, tranh chấp đất đai dẫn đến án mạng, bắt giữ cán bộ, công chức địa phương, biểu tình đập phá công sở… Vì vậy, phải làm cho mỗi một cử tri càng cần phải nhận thức thật sự sâu sắc, thấu đáo về nghĩa vụ và quyền lợi của mình để chủ động hơn nữa trong việc tìm hiểu, bầu ra được những đại biểu thật sự xứng đáng, vừa có tâm, vừa có tầm, đại diện cho tiếng nói và lợi ích chung của cộng đồng xã hội. Mỗi công dân phải được thông tin thường xuyên về hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương mình, những thay đổi của pháp luật, những chính sách mới của nhà nước, văn bản ở địa phương. Dân chủ hóa đời sống chính trị để Nhân dân tham gia ngày càng nhiều, thực chất vào các hoạt động quản lý của nhà nước để năng lực làm chủ về chính trị ngày càng được nâng lên.
Kiểm soát QLNN luôn là vấn đề quan trọng và phức tạp nhất của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” thực chất là cơ chế “kiểm soát hai đầu” nhưng chưa được hiểu đúng và thực thi một cách hiệu quả. Để phát huy tốt ưu thế của chế độ xã hội chủ nghĩa, cần phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng với tư cách là người kiểm soát QLNN từ trên xuống và phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân với tư cách là người kiểm soát quyền lực từ dưới lên bằng các cơ chế, quy định cụ thể. Cơ chế kiểm soát QLNN của Nhân dân đã được pháp luật quy định. Nhân dân luôn đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước, đó là một tiền đề rất thuận lợi để kiểm soát QLNN. Thêm vào đó, với mục tiêu lý tưởng phục vụ dân tộc, Tổ quốc và Nhân dân, đảng viên là những người ưu tú nhất trong xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được luật pháp công nhận, do đó Đảng có đủ cơ sở pháp lý, điều kiện và khả năng kiểm soát hữu hiệu đối với cơ quan QLNN.
---------
Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 3 (33) - 2023
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva, 1978, tập 43, tr.447.
2 John Stuart Mill: Luận về tự do, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.131.
3 Trần Ngọc Đường: Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/669.
4 Ngân hàng Thế giới: Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi, Hà Nội, 1998, tr.126.
5 Hobbes: Leviathan, Harmondsworth, Penguin, 1968, p.161.
6, 8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập I, tr.203, 96-97.
7 Phan Xuân Sơn: Kiểm soát quyền lực trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, Tạp chí Cộng sản điện tử, cập nhật 21:20, ngày 19/01/2018.