ThS PHAN HOÀNG NGOAN
Sở Nội vụ tỉnh Hậu Giang

 

(TTKHCT) - Đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (gọi là cán bộ, công chức cấp cơ sở) có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác được thể hiện bằng các hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tỉnh Hậu Giang đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương trong giai đoạn mới trong việc chuẩn hóa trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, đạo đức lối sống, kỹ năng thực thi công vụ, chuyên nghiệp, gần dân, sát dân phục vụ nhân dân sẽ góp phần xây dựng hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả từ cơ sở.

Đồng chí Đồng Văn Thanh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang phát biểu tại buổi làm việc với Đoàn công tác của Ban Cơ yếu Chính phủ. (Nguồn: haugiang.dcs.vn)

Thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở như Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX (số 17-NQ/TW ngày 18/3/2022) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở xã, phường, thị trấn đã đặt ra nhiệm vụ phải chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở. Hệ thống chính trị nước ta có 04 cấp, gọi chung là: cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đủ về số lượng và chất lượng của tỉnh Hậu Giang trong giai đoạn hiện nay là trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và địa phương.

1. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của tỉnh Hậu Giang

Về số lượng theo khảo sát của Sở Nội vụ tỉnh Hậu Giang đến quý III/2022 cán bộ, công chức cấp xã là 1.556 người. Theo quy định tại Nghị định số 34/2019/NĐ-CP của Chính phủ và qua kết quả phân loại đơn vị hành chính thì tổng số cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Hậu Giang được bố trí tối đa là 1.669 người. Hiện nay tỉnh Hậu Giang chỉ bố trí 1.556 người, còn thiếu 113 người theo quy định. Về cơ cấu độ tuổi cán bộ, công chức cấp xã có độ tuổi dưới 35 chiếm 24,67%; từ 36 đến 55 chiếm 69,21%; từ 56 đến 60 chiếm 5,39%; từ trên 60 chiếm 0,70%.

Về chất lượng: Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã có những chuyển biến tích cực nhất định so với các năm trước, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, các kỹ năng hành chính cũng như tin học, ngoại ngữ từng bước được nâng lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nhìn chung, cán bộ, công chức cấp cơ sở tỉnh Hậu Giang chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; kỷ cương, kỷ luật hành chính trong thi hành công vụ được tăng cường, có tinh thần trách nhiệm, ý thức rèn luyện phẩm chất, đạo đức, gắn bó, gần gủi nhân dân, hướng đến các giá trị phục vụ nhân dân trong giai đoạn mới.

Những kết quả đạt được.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở ở Hậu Giang đã luôn được xem là một khâu đột phá trong công tác cán bộ; mục đích của công tác cán bộ là nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, nhất là hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX luôn đặt mục tiêu chuẩn hóa và từng bước nâng cao chất lượng trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở.

Công tác quy hoạch cán bộ, công chức cấp cơ sở bước đầu được các cấp ủy Đảng ở các xã, phường, thị trấn thực hiện khá tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị theo kế hoạch đào tạo cán bộ, công chức của đơn vị.

Công tác bố trí, sử dụng cán bộ, công chức cấp cơ sở ngày càng được các cấp ủy Đảng quan tâm nhiều hơn, đặc biệt ngày càng chú ý phân công những cán bộ đã được đào tạo, có năng lực, phẩm chất, đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao… giữ các chức vụ chủ chốt ở cơ sở.

Chất lượng hoạt động của cán bộ, công chức được nâng lên qua từng năm, cán bộ, công chức hoạt động đúng theo chức năng, nhiệm vụ, thể hiện tính chuyên nghiệp, linh hoạt, sáng tạo, công tác cải cách hành chính được thực hiện khá tốt, có nhiều đề tài sáng kiến góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tỉnh Hậu Giang được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm cả về số lượng và chất lượng. Về số lượng, đã quan tâm bổ sung những vị trí còn thiếu do về hưu, chuyển công tác, nghỉ việc…thông qua các hình thức tuyển dụng công khai, minh bạch, cạnh tranh. Về chất lượng, cán bộ, công chức cấp cơ sở quy hoạch trong nhiệm kỳ, quy hoạch bổ sung định kỳ và trong tuyển dụng mới đã có những định hướng theo hướng trẻ hoá, tính kế thừa, đạt chuẩn về chuyên môn, khuyến khích trên chuẩn chuyên môn, có phẩm chất, đạo đức, kỹ năng thích ứng trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngay tại cơ sở. Do đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ở địa phương tỉnh Hậu Giang có nhiều chuyển biển tích cực về nhận thức, có bước đi phù hợp, thích ứng đòi hỏi của xã hội đặt ra trong tình hình mới.

Những mặt hạn chế.

Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ở Hậu Giang đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, tuy nhiên việc quản lý, bố trí, sử dụng chưa hiệu quả. Thực tế vừa qua, cách thức thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ ở cơ sở chưa thật sự khoa học; khâu bố trí, sử dụng đối với một bộ phận lớn cán bộ, công chức cơ sở sau đào tạo đôi lúc chưa phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ; chất lượng đào tạo còn hạn chế so yêu cầu thực tế.

Việc quy hoạch đào tạo và bố trí sử dụng cán bộ, công chức ở một số địa phương, đơn vị còn lúng túng, chưa tạo được đột phá. Việc thực hiện quy chế dân chủ trong công tác cán bộ còn có những biểu hiện chưa thống nhất, thiếu hợp lý, chưa sát với yêu cầu thực tế của đơn vị, từ đó dẫn đến tình trạng công tác rà soát, bổ sung quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng thiếu thường xuyên, việc luân chuyển, thay thế cán bộ, công chức thực hiện chưa kịp thời.

Còn một số cán bộ, công chức chưa đáp ứng tốt yêu cầu của công việc. Chưa tích cực trong việc tự học tập, nghiên cứu, rèn luyện để nâng cao trình độ, nghiệp vụ công tác; trong thực hiện nhiệm vụ chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm cũng như ý thức tự giác, chủ động sáng tạo trong tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo. Một số cán bộ, công chức cấp xã chưa có ý thức cao trong việc học tập mà mục đích học chỉ để có bằng cấp, để được xem xét đề bạt, bổ nhiệm và để xếp lương lên ngạch có hệ số lương cao hơn.

Trong sinh hoạt và tu dưỡng đạo đức còn những biểu hiện thiếu gần dân, thiếu sâu sát thực tế; ý thức rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị chưa cao, một số cán bộ, công chức còn có những biểu hiện suy thoái về đạo đức cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ và trong sinh hoạt.

Một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã thiếu tinh thần phấn đấu, cầu tiến, chưa thường xuyên học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có biểu hiện làm việc cầm chừng, cơ hội, lợi ích cá nhân, tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân chưa cao, chưa phát huy hết vai trò, chức năng nhiệm vụ của mình, không dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chống tiêu cực, ngại va chạm sợ mình bị mất lòng đối với người khác, thậm chí có biểu hiện vòi vĩnh, hạch sách nhân dân… Thực tế vẫn còn cán bộ, công chức “sáng xách ô đi, tối xách ô về” mà theo dư luận phản ánh.

Công tác đánh giá xếp loại cán bộ, công chức ở một số nơi chưa thực hiện tốt, còn hình thức, qua loa, chiếu lệ và dĩ hòa vi quý. Công tác kiểm tra, giám sát chưa được thường xuyên, chưa kịp thời uốn nắn và chấn chỉnh những biểu hiện sai lệch, những dấu hiệu vi phạm, để ngăn ngừa sớm, phần lớn là xử lý những vụ việc có đơn thư phản ánh hoặc những sự vụ, sự việc đã xảy ra. 

Về số lượng, do thực hiện chủ trương chung của Trung ương về tinh giản biên chế trong hệ thống chính trị, nên việc sắp xếp các tổ chức hành chính cấp huyện, cấp xã chưa đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện về dân số, diện tích tự nhiên, việc bố trí Trưởng công an xã là công an chính quy ảnh hưởng không nhõ đến tính ổn định, áp lực đến việc bố trí, sắp xếp và tỉnh giản công chức cấp xã theo Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.

Về chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ này nhìn chung còn thấp so với mặt bằng chung của đội ngũ cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên. Số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ chuyên môn trung cấp cơ sở ở địa phương chiếm 13,94 %, cán bộ chưa qua đào tạo chiếm hơn 0,5 %, công chức chưa qua đào tạo trình độ lý luận chính trị chiếm 6,36% chủ yếu tập trung vào 07 chức danh công chức cấp xã. Trong thực tế vẫn còn cán bộ cấp cơ sở ở một số vị trí chỉ dừng lại bố trí cho đủ số lượng, chưa chú trọng đến chất lượng và chưa có phương án đào tạo bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu theo tiêu chuẩn chức danh gắn với vị trí việc làm. Phần lớn cán bộ, công chức cấp cơ sở có bằng cấp chuyên môn nghiệp vụ chưa phù hợp, chưa quan tâm tuyển chọn chặt chẽ từ khâu chất lượng đầu vào nên việc tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cấp chính quyền cơ sở còn bộc lộ nhiều hạn chế; kỷ cương, kỷ luật hành chính, đạo đức công vụ, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân có lúc, có nơi chưa nghiêm, dẫn đến việc giải quyết yêu cầu của nhân dân chậm trễ, phiền hà, chưa được sự hài lòng của người dân theo mục tiêu mong muốn.

2. Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ở tỉnh Hậu Giang thời gian tới

Trong thời gian qua, tỉnh Hậu Giang đã thực hiện nhiều giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở đáp ứng xây dựng chính quyền địa phương giai đoạn mới nhưng sự thay đổi về số lượng do tinh giản biên chế, cùng với nhiều nguyên nhân khác nên năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức cấp cơ sở vẫn chưa ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Do đó, để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của tỉnh Hậu Giang theo yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số công việc theo yêu cầu và giải pháp sau:

Một là, cấp ủy, chính quyền các cấp trong hệ thống chính trị của tỉnh cần xác định đầy đủ tính chất, vai trò quan trọng của cán bộ, công chức cấp cơ sở theo Hiến pháp năm 2013 là cấp chính quyền cấp xã, nơi gần dân, sát dân, triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến nhân dân, nhận phản hồi kết quả từ nhân dân; đảm bảo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự tại cơ sở. Bản thân mỗi cán bộ, công chức cấp cơ sở cũng phải tự xác định vị thế của mình trong hệ thống chính trị, phải hết sức phấn đấu rèn luyện đạo đức cách mạng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó cần thực hiện những chuẩn mực cơ bản nhất của người cán bộ là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không chỉ học tập, rèn luyện theo tấm gương đạo đức của Người, mà cán bộ, công chức phải biết linh hoạt, chủ động và tích cực hiện thực hóa những chuẩn mực đạo đức ấy một cách thiết thực vào đời sống sinh hoạt cá nhân và trong thực thi nhiệm vụ công tác. Nhằm mục đích cao nhất là đạt được yêu cầu về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong quá trình thực hiện chức trách do Đảng phân công và hoàn thành vai trò người cán bộ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân;

Hai là, cấp ủy và ủy ban nhân dân cấp huyện định hướng, triển khai các phương án đào tạo cho cán bộ, công chức cấp cơ sở cần đạt chuẩn chuyên môn theo các quy định mới của Đảng, Nhà nước của lộ trình đến năm 2030; đào tạo lại cán bộ, công chức cấp cơ sở có bằng cấp chuyên môn cần phù hợp vị trí việc làm đang đảm nhận; bồi dưỡng kỹ năng hành chính, đạo đức công vụ, nâng lên tinh thần thái độ phục vụ nhân dân theo hướng: (1) Đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với công tác quy hoạch theo hướng “động” và “mở”. Việc quy hoạch cán bộ vào vị trí mới nhất thiết phải xem xét đến khả năng chuyên môn mà người cán bộ đó có thể đảm nhiệm tốt vị trí được quy hoạch. Sau khi quy hoạch, cần sớm tạo điều kiện cho người được quy hoạch đi đào tạo hoặc bồi dưỡng đúng với chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ ở vị trí mới. (2) Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ theo nhu cầu công việc và đơn vị sử dụng cán bộ, công chức. Thực tế cho thấy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả công tác của cán bộ, công chức cấp xã, trong đó không kém phần quan trọng là phải “đào tạo lại cán bộ theo yêu cầu công tác”. (3) Đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức vừa là nhu cầu chính đáng của bản thân người cán bộ nhưng cũng là một yêu cầu tất yếu nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Vì vậy, cần có cơ chế hỗ trợ thoả đáng và tạo điều kiện để cán bộ, công chức ở xã có cơ hội được đi học nâng cao trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ lãnh đạo, quản lý và xử lý công việc.

Ba là, cấp ủy và ủy ban nhân dân cấp huyện từng bước quan tâm đến việc bố trí, phân công cán bộ, công chức cơ sở không phải là người địa phương ở một số vị trí chủ chốt hoặc thực hiện chuyển đổi khi cần thiết cho yêu cầu, nhiệm vụ cấp cơ sở thực hiện thông suốt, hiệu quả tại cơ sở. Điều động, luân chuyển cán bộ là một nội dung quan trọng của công tác cán bộ, góp phần tích luỹ thực tiễn, nâng cao năng lực, kỹ năng xử lý công việc của người cán bộ. Đồng thời, việc điều động, luân chuyển cán bộ cũng phải góp phần nâng cao chất lượng hoạt động ở cơ sở. Thực hiện chính sách điều động, luân chuyển cán bộ về cơ sở sẽ góp phần phòng chống được tình trạng cục bộ, bè phái; là điều kiện để ngăn ngừa, đẩy lùi tệ xuề xòa, nể nang, sợ mất lòng hoặc sợ bị trù dập khi nhận xét, bình bầu, đóng góp. Tuy nhiên, cán bộ, công chức ở tỉnh, huyện (thị xã, thành phố) được điều động, luân chuyển về các xã, phường, thị trấn ngoài yếu tố trình độ, phẩm chất đạo đức, cần phải chú ý đến các tiêu chuẩn khác, như: phải có kinh nghiệm, có kỹ năng, phương pháp vận động quần chúng, kỹ năng xử lý, lãnh đạo và có nghiệp vụ chuyên ngành phù hợp với chức năng, nhiệm vụ tương ứng với các chức danh được bổ nhiệm. Một trong những mục tiêu quan trọng của luân chuyển cán bộ, công chức là tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn, phát huy tối đa năng lực, sở trường của người cán bộ, công chức và tạo cơ sở cho sự đổi mới không ngừng trong lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả trong sử dụng cán bộ, công chức.

Bốn là, cấp quản lý và sử dụng cán bộ, công chức cần chú trọng đổi mới công tác tuyển dụng, giới thiệu ứng cử, bầu cử đối các chức danh cán bộ đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện theo chuẩn mới để tránh tuyển dụng rồi phải đào tạo lại hoặc chưa đủ chuẩn để cho đủ số lượng theo chức danh. Cấp cơ sở có đông đồng bào dân tộc thiểu số cần quan tâm đến chính sách ưu tiên trong tuyển dụng, giới thiệu ứng cử các chức danh là người dân tộc thiểu số. Thực hiện nghiêm túc, triệt để và hiệu quả Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn và Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố về việc công khai nhu cầu, số lượng và chức danh cần tuyển dụng; công khai điều kiện dự tuyển, thủ tục, quy trình tuyển dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người đều có cơ hội được dự tuyển, đảm bảo mọi người đều bình đẳng như nhau trong thi tuyển. Quy hoạch, tuyển dụng là một khâu quan trọng đầu tiên, mang tính nền tảng của công tác cán bộ. Công tác quy hoạch và chất lượng đầu vào ở khâu tuyển dụng cán bộ, công chức cấp cơ sở giữ vai trò quan trọng, quyết định đến việc nâng cao chất lượng hoạt động cán bộ ở địa phương. Thực tế cho thấy, chất lượng đầu vào tuy không quyết định trực tiếp và hoàn toàn đến hiệu quả thực thi công vụ của người cán bộ, công chức nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng, chất lượng hoạt động công vụ, cụ thể là kiến thức, kỹ năng, mức độ xử lý và hoàn thành công việc được giao. Do vậy, công tác quy hoạch, tuyển dụng cần căn cứ trên các yêu cầu xuất phát từ thực tế của cơ sở và do chính cơ sở thực hiện và đề xuất. Cụ thể, hàng năm, lãnh đạo cơ sở phải chịu trách nhiệm về công tác rà soát, thống kê số lượng, chức danh cán bộ, công chức; xác định số lượng, các chức danh còn thiếu hoặc nhu cầu cán bộ, công chức cần bổ sung, từ đó có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tuyển dụng cán bộ, công chức có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ có khả năng phù hợp, đảm nhận vào những vị trí cần tuyển dụng để tham mưu cho Hội đồng tuyển dụng có thẩm quyền quyết định.

Năm là, các cấp có thẩm quyền cần có hướng dẫn, quy định đổi mới việc đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở phải sát với chức trách, nhiệm vụ được giao, đúng người, đúng việc, đúng trình độ, năng lực, gắn với sản phẩm cụ thể. Khen thưởng đúng người, đúng thành tích tạo động lực hình tượng gương mẫu trong thực thi nhiệm vụ để nhân rộng điển hình trong đơn vị và xã hội. Đồng thời mạnh dạn thay thế theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp thẩm quyền thay thế những cán bộ, công chức năng lực yếu, thiếu động lực phấn đấu, gây phiền hà, nhũng nhiễu người dân và doanh nghiệp. Công tác đánh giá cán bộ được xem là yếu tố then chốt trong quản lý. Kết quả của công tác đánh giá là phải phản ánh được trình độ, năng lực, mức độ hoàn thành công việc; tư tưởng chính trị đạo đức, tác phong… của người cán bộ, công chức, đồng thời làm cơ sở để cơ quan quản lý xây dựng chế độ thưởng - phạt; đào tạo, bồi dưỡng; đề bạt, bổ nhiệm; bố trí sử dụng. Tuy nhiên, các quy định, hướng dẫn vẫn còn chung chung, chưa sát với từng đối tượng. Phương pháp đánh giá vẫn chủ yếu theo phương pháp truyền thống: nhận xét, biểu quyết (hoặc bỏ phiếu kín). Trong quá trình đánh giá vẫn còn phổ biến tình trạng nể nang, ngại va chạm dẫn đến việc đánh giá chiếu lệ, qua loa; hoặc tư tưởng độc đoán, cục bộ, một chiều thiếu sự công tâm trong đánh giá tạo nên tâm lý nặng nề, ức chế trong cán bộ… Mặt khác, do chưa xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn cụ thể với từng loại công việc tương ứng với các chức danh để làm cơ sở đánh giá cán bộ, công chức cho nên việc đánh giá chỉ ở mức độ chung chung, cảm tính, dẫn đến kết quả đánh giá có độ chính xác không cao, chưa sâu và chưa bao quát. Đánh giá cán bộ, công chức là một khâu quan trọng của công tác cán bộ (xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình; tuyển dụng; quy hoạch; đào tạo, bồi dưỡng; bổ nhiệm; điều động, luân chuyển; xây dựng chế độ chính sách… đối với cán bộ) đồng thời cũng liên quan đến uy tín, tương lai chính trị của người cán bộ nên công tác đánh giá cần phải được tiến hành một cách toàn diện, thận trọng, khoa học, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn tình hình ở địa phương, cơ sở. Trước mắt, cần phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính công tâm, thẳng thắn và kiên quyết của người đánh giá. Muốn vậy cần xây dựng cơ chế liên đới trách nhiệm, người đánh giá phải chịu trách nhiệm cao về những nội dung nhận xét, đánh giá của mình đối với cán bộ được đánh giá. Về lâu dài, cần rà soát, nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức theo từng loại chức danh, công việc được đảm trách dựa trên Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ, Quy định số 1120-QĐ/TU ngày 01/6/2022 của Tỉnh ủy Hậu Giang, từ các tiêu chí này sẽ là cơ sở để lượng hoá một số nội dung trong đánh giá, khắc phục những hạn chế đối với việc sử dụng phương pháp định tính trong đánh giá.

Sáu là, theo phân cấp, các cấp có thẩm quyền quan tâm rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung cho đồng bộ trong quy định về tiêu chuẩn trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức cấp cơ sở phải tương đồng để thực thi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngay tại cơ sở. Đồng thời, đảm bảo tính đồng bộ và từng bước liên thông cán bộ, công chức cấp cơ sở với cán bộ, công chức cấp huyện trở lên theo định hướng Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 27/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người lao động trong doanh nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII.

---------

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 1 (31) - 2023

Tài liệu tham khảo:

1. Luật Cán bộ, công chức năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2019.

2. Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn.

3. Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.

4. Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.

5. Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.

6. Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn một số quy đ?nh v? c?n b?, c?ng ch?c c?p x? v? ng??i ho?t ??ng kh?ng chuy?n tr?ch ? c?p x?, ? th?n, t? d?n ph?.

ịnh về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.

7. Quy định số 1120-QĐ/TU ngày 01/6/2022 của Tỉnh ủy Hậu Giang về việc Quy định tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

8. Báo cáo thống kê của Sở Nội vụ tỉnh Hậu Giang, qúy III năm 2022.