TS. BÙI THỊ LONG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí giữ vai trò trung tâm trong việc bảo vệ nguồn lực phát triển, tăng năng suất, thúc đẩy tiến bộ xã hội và bảo đảm sự thượng tôn pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí vẫn còn hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ lãng phí. Bài viết tập trung phân tích các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay, bao gồm các điều kiện về chính trị, pháp lý, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực, kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục, quan hệ phối hợp.

Từ khóa: Thực hiện pháp luật, phòng, chống lãng phí, Việt Nam

Some conditions for ensuring the implementation of laws on waste prevention and control in Vietnam
in the new period

Abstract: In the process of building and perfecting the socialist rule of law in Vietnam, the implementation of laws on preventing and combating waste plays a central role in protecting development resources, increasing productivity, promoting social progress, and ensuring the supremacy of law. However, practice shows that the implementation of laws on preventing and combating waste still has limitations, loopholes, and potential risks of waste. This article focuses on analyzing the conditions for ensuring the implementation of laws on preventing and combating waste in Vietnam today, including political, legal, organizational and human resource, economic, socio-cultural, educational, and collaborative conditions. Based on this, the article clarifies the role and significance of each group of conditions in ensuring the effective implementation of laws on preventing and combating waste in the socialist rule of law state of Vietnam.

Keywords: Implementation of laws, waste prevention and control, Vietnam

Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết
 công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng
(Nguồn: Cổng thông tin điện tử Ban Nội chính Trung ương)

1. Đặt vấn đề

Dù ở cấp độ cá nhân hay quốc gia, lãng phí đều gây tổn hại đến nguồn lực phát triển, làm giảm năng suất cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, cần phải nhận diện đầy đủ các điều kiện bảo đảm, trên cơ sở đó có biện pháp cụ thể để thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí một cách thực chất, hiệu quả.

Đa số các nghiên cứu về vấn đề này mới dừng ở chính sách và quy định pháp luật về phòng, chống lãng phí, chưa đi sâu phân tích các điều kiện bảo đảm thực thi pháp luật về phòng, chống lãng phí, trong khi thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí không chỉ phụ thuộc vào hệ thống pháp luật về phòng, chống lãng phí mà còn chịu sự chi phối bởi các điều kiện bảo đảm.

Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, nghiên cứu này làm rõ vai trò, ý nghĩa của từng nhóm điều kiện đối với việc bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí hiệu quả gắn với quản trị quốc gia hiện đại, trong đó nhấn mạnh tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Kết quả và thảo luận

2.1. Khái quát về thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí trong bối cảnh mới

Lãng phí theo cách hiểu thông thường chính là làm hao tổn, sử dụng không hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, tài sản, ngân sách của nhà nước, nguồn nhân lực trong bộ máy nhà nước. Tình trạng lãng phí thời gian, công sức, nguồn lực, đất đai, tài nguyên, tài sản công, mua sắm công..., như nhiều trụ sở nhà, đất không sử dụng, sử dụng kém hiệu quả hoặc không đúng mục đích như giai đoạn 2016 - 2024 có 12 dự án, nhà máy thua lỗ, yếu kém với tổng mức đầu tư ban đầu hơn 43.600 tỷ đồng, sau đó đội vốn lên hơn 63.600 tỷ đồng gây thất thoát lớn cho ngân sách nhà nước (Bộ Công Thương, 2017), dự án bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 và dự án Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2, dự án kéo dài 20 năm như chuỗi dự án điện khí Lô B - Ô Môn, sau sáp nhập đơn vị hành chính, nhiều trụ sở công còn để không, v.v. (Văn, 2025), ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của Nhân dân và nguồn lực không được huy động cho sự phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí nhằm làm cho các quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được thực hiện một cách nghiêm minh, thống nhất, hiệu quả trong thực tiễn.

Khoản 2 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 quy định: “Lãng phí là việc quản lý, khai thác, sử dụng tài chính công, tài sản công, tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng lao động trong khu vực nhà nước, tài nguyên, năng lượng vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc việc quản lý, sử dụng không hiệu quả, không đạt được mục tiêu đã định hoặc là việc thực hiện các hành vi gây lãng phí quy định tại Luật này tạo rào cản phát triển kinh tế - xã hội, bỏ lỡ thời cơ phát triển của đất nước” (Quốc hội, 2025).

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 đã quy định cụ thể các hành vi bị coi là lãng phí trên nhiều lĩnh vực như hành vi gây lãng phí liên quan đến xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí; hành vi vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí; hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng tài chính công; hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công; hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng; hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP); quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Quốc hội, 2025). Ngoài ra, Khoản 1, Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 còn quy định về hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí như: vi phạm về thời hạn ban hành, nội dung của Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí; vi phạm trong thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí đã ban hành; vi phạm về thời hạn, nội dung báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí; vi phạm về cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí; vi phạm về thời hạn, nội dung và hình thức công khai về tiết kiệm, chống lãng phí; vi phạm trong việc lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước khi quyết định đối với các biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tiết kiệm, chống lãng phí của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong xác minh, xử lý, giải quyết, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo về tiết kiệm, chống lãng phí; vi phạm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí và người thân theo quy định của pháp luật; vi phạm khác trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí theo quy định của Chính phủ (Quốc hội, 2025).

Khác với tham nhũng, loại hành vi có động cơ vụ lợi cá nhân rõ rệt, lãng phí có thể xuất phát từ sự yếu kém trong quản lý, thiếu trách nhiệm hoặc tư duy chủ quan, hình thức. Hành vi lãng phí khó định lượng chính xác số tiền, tài sản thất thoát, trong khi với hành vi tham nhũng chúng ta có thể dễ dàng xác định đối tượng chiếm đoạt cho cá nhân là bao nhiêu. Hậu quả mà lãng phí gây ra rất lớn, lãng phí thời gian, lãng phí tài nguyên, lãng phí của cải, vật chất và đặc biệt là lãng phí nguồn nhân lực nếu tích tụ lại sẽ làm hao hụt tài sản, ngân sách của nhà nước, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước mà sâu xa hơn nó sẽ kìm hãm tiến bộ xã hội, ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Thực hiện tiết kiệm nguồn lực, phòng, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, trong đó có vai trò chỉ đạo, điều hành, quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán, các cơ quan tiến hành tố tụng, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội và trên hết, đó là ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức và toàn xã hội.

Phòng, chống lãng phí trong bối cảnh mới có vai trò quan trọng trong quản trị quốc gia hiện đại, gắn trực tiếp với việc sử dụng hiệu quả nguồn lực công và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển bền vững, thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí là quá trình các chủ thể (cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân) hiện thực hóa các quy định pháp luật về phòng, chống lãng phí nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi lãng phí trong quản lý, sử dụng nguồn lực của Nhà nước và xã hội.

2.2. Điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí

Điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí là những điều kiện tiên quyết, cần thiết, có tác động đến toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí. Điều kiện được hiểu là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” (Viện Ngôn ngữ học, 2003, tr.581). Để bảo đảm những điều kiện này phải có sự chung tay của các chủ thể, trong đó đặc biệt phát huy trách nhiệm và sự minh bạch của trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp và cá nhân có thẩm quyền. Điều kiện cần thiết đảm bảo thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí hiệu quả bao gồm các điều kiện đảm bảo về chính trị, pháp lý, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, phối hợp.

Thứ nhất, điều kiện bảo đảm về chính trị Bảo đảm về chính trị là sự bảo đảm và phát huy tốt nhất sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí. Sự lãnh đạo về chính trị của Đảng đối với thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí thể hiện ở mức độ quan tâm và nhận thức của các cấp ủy Đảng với công tác thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí. Các quan điểm của Đảng về thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí phải được thể hiện nhất quán trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng.

Hiến pháp năm 2013 khẳng định Đảng lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu khách quan, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn quá trình lãnh đạo của Đảng từ khi ra đời đến nay đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm quý báu, một trong số đó là xác định nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, trong đó phân định rõ sự lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước. Đảng không bao biện, làm thay công việc của Nhà nước, nhưng cũng không buông lỏng, khoán trắng cho Nhà nước. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, sự phân định này càng phải mang tính pháp quyền, trước hết các chủ thể cần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, nhất là trong hoạt động lãnh đạo, trong đó có lãnh đạo thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí, qua đó cần chú trọng tăng cường và kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra Đảng với hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của các cấp ủy Đảng.

Tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, trước hết, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho hoạt động phòng, chống lãng phí được triển khai thống nhất, đồng bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị. Với tư cách là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng có vai trò định hướng chiến lược, đề ra mục tiêu, quan điểm và phương hướng phòng, chống lãng phí phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn.

Trong các văn kiện Đại hội Đảng, vấn đề phòng, chống lãng phí luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và lâu dài. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.385), coi đây là một trong những nội dung then chốt để xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Đây là căn cứ chính trị quan trọng để các cơ quan nhà nước cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện trên thực tế.

Bên cạnh đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là yếu tố bảo đảm trực tiếp cho hiệu quả của công tác này. Đảm bảo về chính trị đóng vai trò rất quan trọng đối với việc thực hiện hiệu quả pháp luật về phòng, chống lãng phí dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Định hướng chính trị của Đảng luôn nhất quán, kết quả thực hiện pháp luật phụ thuộc vào nhận thức và hành động của các cấp ủy Đảng trong hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xây dựng, ban hành pháp luật về phòng chống lãng phí, về tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí. Thực tiễn cho thấy, nơi nào cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu thể hiện rõ quyết tâm chính trị, nơi đó công tác phòng, chống lãng phí đạt được kết quả rõ rệt, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Thứ hai, điều kiện bảo đảm về pháp lý Điều kiện bảo đảm về pháp lý có vai trò đặc biệt quan trọng trong phòng, chống lãng phí, bởi pháp luật là công cụ trực tiếp, hiệu quả nhất để phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi lãng phí. Một hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi và minh bạch sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng, hạn chế sự tùy tiện, ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể trong thực thi quyền lực, đồng thời thu hẹp các “khe hở” có thể bị lợi dụng để trục lợi, từng bước nâng cao vị thế cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế. Ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã khẳng định: “Quản lý bằng pháp luật đòi hỏi phải quan tâm xây dựng pháp luật. Từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986). Bảo đảm về mặt pháp lý thể hiện một hệ thống pháp luật hoàn thiện về phòng, chống, loại bỏ lãng phí, đáp ứng các yêu cầu thể hiện ở sự đồng bộ, chặt chẽ, khả thi, phù hợp với kỹ thuật lập pháp cao.

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 và Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025) đã đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng của hệ thống pháp luật về phòng, chống lãng phí ở Việt Nam, với nhiều quy định mới về kiểm soát quyền lực, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, cũng như trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khu vực công và khu vực ngoài nhà nước, các quy định về hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Các quy định này góp phần hình thành cơ chế phòng ngừa từ sớm, từ xa, làm cho hành vi lãng phí trở nên khó thực hiện hơn.

Bên cạnh đó, việc quy định các chế tài xử lý nghiêm minh đối với hành vi lãng phí có tác dụng răn đe mạnh mẽ, góp phần hình thành tâm lý “không dám tham nhũng, lãng phí”. Đồng thời, pháp luật về chế độ tiền lương, đãi ngộ, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, công chức cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa lãng phí góp phần tạo động cơ làm việc liêm chính, hạn chế tình trạng lãng phí.

Thứ ba, điều kiện bảo đảm về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực

Điều kiện về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực giữ vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa các chủ trương, chính sách và quy định pháp luật về phòng, chống lãng phí.

Năm 2025, việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước trong đó có chính quyền địa phương được thực hiện với quyết tâm cao. Sau sắp xếp, chính quyền địa phương chỉ còn hai cấp, từ 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh hiện còn 34 đơn vị, không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện, có 3321 đơn vị hành chính cấp xã. Điều này có ý nghĩa trực tiếp đối với thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay. Đây không chỉ là biện pháp cải cách hành chính mà còn là điều kiện bảo đảm quan trọng để pháp luật về phòng, chống lãng phí được thực thi hiệu quả.

Thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí cần thiết phải có một hệ thống tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, được phân công rõ ràng và hoạt động hiệu quả. Về quản lý nhà nước, pháp luật về phòng, chống lãng phí đã xác định tương đối bao quát các yêu cầu về tổ chức bảo vệ tài sản công. Trước hết, việc xây dựng kiện toàn các cơ quan có chức năng phòng, chống lãng phí là yêu cầu khách quan, phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam. Việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và sự phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử đã góp phần nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý các vụ việc lãng phí nghiêm trọng, phức tạp.

Cùng với đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác phòng, chống lãng phí có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức là điều kiện mang tính quyết định. Đội ngũ này không chỉ cần có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, am hiểu pháp luật mà còn phải có bản lĩnh chính trị kiên định, phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức trách nhiệm cao. Đây là yếu tố mang tính quyết định bảo đảm cho công tác phòng, chống lãng phí được thực hiện khách quan, công tâm, đúng pháp luật và không bị chi phối bởi bất cứ yếu tố nào khác.

Thứ tư, điều kiện bảo đảm về kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục

Cùng với điều kiện bảo đảm về chính trị, pháp lý, tổ chức bộ máy và nhân sự, bảo đảm về kinh tế, văn hóa, giáo dục là những điều kiện bảo đảm cần được chú ý trong thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí. Tình trạng lãng phí không chỉ biểu hiện ở thất thoát tiền và tài sản công trong lĩnh vực kinh tế, mà còn lan sang lĩnh vực văn hóa - xã hội và giáo dục. Nguồn lực quốc gia bị hao hụt không chỉ dưới dạng hữu hình như vốn đầu tư, đất đai, cơ sở vật chất mà còn dưới dạng vô hình như thời gian, cơ hội phát triển, chất lượng nguồn nhân lực và niềm tin xã hội.

Một là, bảo đảm về kinh tế được xác định là các điều kiện cần thiết về nguồn lực vật chất, tài chính và kỹ thuật bảo đảm triển khai các hoạt động thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí trong thực tiễn. Phòng, chống lãng phí là hoạt động đòi hỏi nguồn lực vật chất, tài chính và kỹ thuật đáng kể. Trên thực tế, nhiều vụ việc lãng phí có quy mô lớn, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, địa bàn và đối tượng khác nhau, quá trình điều tra, xử lý kéo dài. Vì vậy, việc bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, nhất là ứng dụng công nghệ thông tin và nguồn kinh phí hoạt động là điều kiện không thể thiếu để các cơ quan chức năng thực hiện hiệu quả nhiệm vụ. Việc đầu tư nguồn lực vật chất thích đáng cho công tác phòng, chống lãng phí không chỉ phục vụ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử mà còn góp phần nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa và kiểm soát rủi ro lãng phí trong quản lý nhà nước.

Hai là, từ sau công cuộc đổi mới đất nước, cùng với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa, những chuẩn mực văn hóa tốt đẹp như ý thức pháp luật, văn hóa tiết kiệm có tác động tích cực trong thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí. Song cũng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng, cá biệt có hiện tượng tồn tại ở một bộ phận có chức vụ, nhưng suy thoái, bất chấp kỷ cương, vẫn vi phạm pháp luật về phòng, chống lãng phí. Tình trạng lãng phí có biểu hiện gia tăng cả về số lượng vụ việc và tính chất nghiêm trọng, tinh vi của hành vi vi phạm. Những hạn chế đó đều làm giảm hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí. Để hình thành cơ chế kiểm soát xã hội đối với việc sử dụng tài sản và ngân sách nhà nước, cần khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân tham gia giám sát việc sử dụng nguồn lực. Thiết lập cơ chế phản ánh, tố giác hành vi gây lãng phí và tăng cường công khai, minh bạch thông tin. 

Ba là, bên cạnh các bảo đảm về kinh tế, văn hóa - xã hội, việc đẩy mạnh các hoạt động phổ biến, tuyên truyền, giáo dục là điều kiện cần thiết để các chủ thể thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí có quan niệm, nhận thức và hành động đúng, hạn chế và tiến đến loại bỏ các hành vi không tuân thủ pháp luật về phòng chống lãng phí, bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí hiệu quả. 

Thứ năm, điều kiện bảo đảm về quan hệ phối hợp

Quan hệ phối hợp giữa các chủ thể trong phòng, chống lãng phí chỉ phát huy hiệu quả khi được bảo đảm đồng bộ bởi hệ thống pháp luật hoàn thiện, sự lãnh đạo nhất quán, cơ chế thông tin kịp thời, giám sát chặt chẽ và sự tham gia của xã hội. Đây cũng là một trong những yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh mới.

Nhằm tránh tình trạng chồng chéo chức năng, đùn đẩy trách nhiệm hoặc bỏ trống quản lý, pháp luật phải quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong phòng, chống lãng phí, đồng thời xác định rõ vai trò chủ trì, vai trò phối hợp và cơ chế chịu trách nhiệm của từng chủ thể trong các bước như phát hiện, xử lý, kiểm tra và giám sát hành vi gây lãng phí.

Để hoạt động phối hợp đồng bộ, thống nhất và tránh cục bộ ngành, cục bộ địa phương, lợi ích nhóm, cần thiết có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng và cơ chế quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương, tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong phối hợp giữa các cơ quan, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, minh bạch và kết nối cơ sở dữ liệu dùng chung trong quản lý tài sản công, đầu tư công, ngân sách, giúp các chủ thể phát hiện sớm, xử lý nhanh và hạn chế thất thoát nguồn lực.

Để tăng cường trách nhiệm và tính minh bạch trong quan hệ phối hợp, cần kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với các hoạt động sử dụng nguồn lực công, quy định chế tài rõ ràng đối với hành vi không phối hợp hoặc phối hợp hình thức, chiếu lệ đồng thời phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, báo chí và xã hội.

Phòng, chống lãng phí là nhiệm vụ liên quan đến nhiều chủ thể trong hệ thống chính trị, do đó sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan là điều kiện bảo đảm quan trọng. Việc phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giúp bảo đảm sự thống nhất trong chỉ đạo, tránh chồng chéo, bỏ sót hoặc làm giảm hiệu quả xử lý các vụ việc lãng phí.

Đồng thời, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, báo chí và xã hội là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và người có chức vụ, quyền hạn. Sự tham gia của xã hội không chỉ hỗ trợ phát hiện hành vi vi phạm mà còn tạo áp lực thúc đẩy công tác phòng, chống lãng phí được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả.

3. Kết luận

Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí ở Việt Nam trong bối cảnh mới có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Chỉ khi các điều kiện về chính trị, pháp lý, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực, kinh tế - xã hội và quan hệ phối hợp được bảo đảm đồng bộ, thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí mới có thể phát huy tốt hiệu quả trong thực tiễn. 

Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, việc tiếp tục hoàn thiện và đồng bộ các điều kiện bảo đảm này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lực phát triển, tăng năng suất, thúc đẩy tiến bộ xã hội và bảo đảm sự thượng tôn pháp luật mà quan trọng hơn là củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống pháp luật của Nhà nước với nền quản trị minh bạch, liêm chính. ■

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Công Thương. (2017). Thông tin về phương án xử 12 dự án kém hiệu quả thuộc ngành Công Thương. https:// moit.gov.vn/tin-tuc/thi-truong-nuoc-ngoai/thong-tin- ve-phuong-an-xu-ly-12-du-an-kem-hieu-qua-thuoc- nga.html.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1986). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

4. Quốc hội. (2025). Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Hà Văn. (2025). Thủ tướng: Phòng, chống lãng phí phải như “cơm ăn, nước uống hàng ngày”. https://baochinhphu. vn/thu-tuong-phong-chong-lang-phi-phai-nhu-com- an-nuoc-uong-hang-ngay-10225022512240713htm.

6. Viện Ngôn ngữ học. (2003). Từ điển Tiếng Việt. Trung tâm Từ điển học.

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 3 (51) - 2026