
THS. ĐỖ THỊ NGỌC ANH
Học viện Chính trị khu vực III
Email: dtnanhhvctkvIII@gmail.com
Tóm tắt: Trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội được xác lập như một quan điểm chỉ đạo chiến lược, phản ánh nhận thức ngày càng sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bổ sung, hoàn thiện theo hướng toàn diện, hiện đại và chủ động. Trên nền tảng đó, Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân”, bảo đảm “an ninh tổng hợp”, gắn kết hữu cơ giữa phát triển kinh tế, ổn định xã hội, hội nhập quốc tế và củng cố năng lực tự cường quốc gia. Quan điểm này thể hiện tầm nhìn chiến lược dài hạn, đồng thời khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh phát triển mới của đất nước.
Từ khóa: Quốc phòng, an ninh, kết hợp, kinh tế - xã hội, tư duy lý luận, thế trận lòng dân
Abstract: In the theoretical thinking of the Communist Party of Vietnam, the combination of national defense and security with socio-economic development is established as a strategic guiding viewpoint, reflecting an increasingly profound awareness of the dialectical relationship between the two strategic tasks of national construction and defense. On that basis, the Party emphasizes building the people’s heart-and-mind posture, ensuring comprehensive security, and organically linking economic development, social stability, international integration and national self-reliance. This viewpoint demonstrates a long-term strategic vision and affirms its theoretical and practical value in the country’s new development context.
Keywords: National defense and security, combination, socio-economic development, theoretical thinking, people’s heart-and-mind posture

Quang cảnh trực thăng quân sự treo cờ bay vào trung tâm thủ đô Hà Nội, thực hiện hợp luyện chuẩn bị cho lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành chào mừng 80 năm Quốc khánh 2.9 (Ảnh: VNN. Nguồn: Tạp chí điện tử Lý luận Chính trị)
1. Đặt vấn đề
Xuyên suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định quan điểm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ, thống nhất và không thể tách rời. Trước những biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo của tình hình thế giới; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng cùng với các thách thức an ninh, nhất là an ninh phi truyền thống, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội ngày càng được nâng lên thành một cấu trúc chiến lược trung tâm trong tư duy lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.
Từ cách tiếp cận coi trọng “kinh tế gắn với quốc phòng” hoặc “phát triển đi đôi với củng cố quốc phòng, an ninh”, tư duy của Đảng từng bước phát triển thành một hệ quan điểm lý luận thống nhất, toàn diện và có chiều sâu chiến lược, được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội Đảng. Theo đó, quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội được xác định là những trụ cột cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia, có mối quan hệ tương tác hai chiều, mang tính chủ động, được thể chế hóa đồng bộ trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển. Sự chuyển biến từ “gắn kết” sang “tích hợp chiến lược” thể hiện bước trưởng thành quan trọng trong tư duy lý luận và năng lực cầm quyền của Đảng.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp lịch sử - lôgic, phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp khái quát hóa lý luận nhằm làm rõ sự phát triển trong tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội qua các văn kiện, nghị quyết và định hướng chính sách có liên quan.
2. Kết quả và thảo luận
2.1. Những bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội
2.1.1. Tư duy lý luận của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1986 - 2016
Đại hội VI của Đảng (1986) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy lý luận về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đổi mới đất nước. Văn kiện Đại hội xác định: “Quốc phòng và an ninh được xây dựng và củng cố ngày càng vững mạnh, bảo đảm điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế...; củng cố thế trận bảo vệ Tổ quốc cả về quốc phòng và an ninh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.378 - 379). Quan điểm này cho thấy sự chuyển biến từ tư duy “bảo vệ để xây dựng” sang tư duy “xây dựng gắn với bảo vệ”, đặt quốc phòng, an ninh trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Đây là bước khởi đầu quan trọng cho quá trình hình thành tư duy lý luận mới của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới.
Đại hội VIII của Đảng tiếp tục mở rộng nội hàm của sự kết hợp khi đặt vấn đề “kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh”. Đây là bước phát triển đáng chú ý về lý luận, bởi Đảng không còn tiếp cận vấn đề chỉ từ góc độ kinh tế và quốc phòng, mà đã bổ sung yếu tố “xã hội” như một thành tố cấu thành của sức mạnh quốc gia. Theo đó, phát triển không chỉ được hiểu là tăng trưởng kinh tế mà phải gắn với công bằng xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân, giữ vững ổn định chính trị và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tư duy này phản ánh nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng về vai trò của Nhân dân và nền tảng xã hội trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX (2003) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về sức mạnh tổng hợp quốc gia. Lần đầu tiên, Đảng xác định yêu cầu kết hợp đồng bộ các yếu tố kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và văn hóa - xã hội trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Điều này cho thấy tư duy bảo vệ Tổ quốc không còn giới hạn trong lĩnh vực quân sự hay an ninh truyền thống, mà được mở rộng thành một chiến lược tổng hợp, gắn chặt với toàn bộ tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, Đảng nhận thức rõ rằng bảo vệ Tổ quốc phải được thực hiện từ sớm, từ xa, bằng cả sức mạnh nội lực và sức mạnh tổng hợp của quốc gia.
Đại hội XI của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020 tiếp tục phát triển tư duy lý luận này theo hướng toàn diện và chặt chẽ hơn. Văn kiện Đại hội khẳng định yêu cầu phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn với giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Từ góc độ lý luận, có thể thấy quốc phòng, an ninh không còn chỉ là lĩnh vực hỗ trợ cho phát triển mà đã trở thành một tiêu chí chiến lược trong lựa chọn mô hình tăng trưởng và định hướng phát triển quốc gia. Mọi chiến lược phát triển nếu gây mất ổn định chính trị - xã hội hoặc làm suy giảm năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia đều không thể được coi là phát triển bền vững.
Tư duy lý luận của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện tập trung và có tính khái quát cao trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh khẳng định: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011a, tr.82).
Trên phương diện lý luận, đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức biện chứng của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Cương lĩnh năm 2011 không chỉ khẳng định vai trò nền tảng của phát triển kinh tế - xã hội đối với quốc phòng, an ninh, mà còn nhấn mạnh vai trò bảo đảm của quốc phòng, an ninh đối với sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Mối quan hệ này mang tính hai chiều, tương hỗ và chuyển hóa lẫn nhau, phản ánh quy luật phát triển khách quan của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. Điểm mới nổi bật của Cương lĩnh năm 2011 là sự chuyển hóa từ nhận thức mang tính định hướng sang yêu cầu thể chế hóa trong thực tiễn phát triển. Nếu trước đây, quan điểm “kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh” chủ yếu được xem như nguyên tắc chỉ đạo, thì nay đã trở thành yêu cầu bắt buộc trong hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển quốc gia. Điều này khẳng định quốc phòng, an ninh không thể đứng ngoài tiến trình phát triển kinh tế - xã hội mà phải được lồng ghép ngay từ đầu trong mọi quyết sách phát triển của từng ngành, từng vùng và từng địa bàn chiến lược. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận và năng lực cầm quyền của Đảng, tạo cơ sở chính trị và lý luận cho việc xây dựng mô hình phát triển gắn chặt với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2.1.2. Tư duy lý luận của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2026
Đại hội XII của Đảng tiếp tục phát triển tư duy lý luận về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội theo hướng cụ thể hóa trên bình diện lãnh thổ, không gian chiến lược và các dự án phát triển. Văn kiện Đại hội xác định: “Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong các khu vực phòng thủ phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, nhất là ở những vị trí trọng yếu chiến lược... Nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế - quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế, xã hội khu vực dọc biên giới và biển, đảo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.312-313). So với các giai đoạn trước, tư duy lý luận của Đảng đã có bước chuyển từ nhận thức “gắn kết” sang yêu cầu “tích hợp chiến lược” giữa phát triển và bảo vệ. Quốc phòng, an ninh không chỉ là yếu tố đồng hành với phát triển mà còn trực tiếp tham gia định hướng tổ chức không gian phát triển, lựa chọn địa bàn ưu tiên và xác lập các tiêu chí an toàn chiến lược trong quy hoạch phát triển quốc gia. Các khu kinh tế - quốc phòng được xác định như mô hình kết hợp đặc thù giữa phát triển kinh tế, ổn định xã hội với củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tại các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo. Đáng chú ý, nội hàm “xã hội” trong cấu trúc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với phát triển ngày càng được Đảng nhấn mạnh. Những vấn đề như giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội không chỉ mang ý nghĩa phát triển xã hội mà còn trực tiếp góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho quốc phòng, an ninh. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng khi coi con người và xã hội vừa là mục tiêu, vừa là nguồn lực và nền tảng của chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Đại hội XIII của Đảng đánh dấu bước phát triển toàn diện và hiện đại hơn trong tư duy lý luận về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a, tr.110). Đảng đã xác lập rõ vị trí của quốc phòng, an ninh trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, gắn bó hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng hệ thống chính trị. Tư duy mới của Đảng thể hiện sự chuyển biến từ nhận thức “bảo vệ để phát triển” sang “phát triển trong bảo vệ”, phản ánh nhận thức chủ động và toàn diện về bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Theo đó, quốc phòng, an ninh không chỉ có chức năng bảo vệ thành quả phát triển mà còn trở thành điều kiện, động lực và tiêu chí của phát triển bền vững. Mọi chiến lược phát triển quốc gia đều phải đặt trong yêu cầu giữ vững độc lập, chủ quyền, ổn định chính trị - xã hội và an ninh quốc gia. Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu “Tổ chức, triển khai đồng bộ, thống nhất việc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021b, tr.150). Đây là sự phát triển mới về lý luận khi Đảng không chỉ đặt vấn đề kết hợp giữa các lĩnh vực mà còn yêu cầu xây dựng đồng bộ các cấu phần của sức mạnh tổng hợp quốc gia trong một chỉnh thể thống nhất. Đặc biệt, khái niệm “thế trận lòng dân” được nhấn mạnh như một hạt nhân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc và kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển xã hội. Văn kiện Đại hội XIII xác định: “Xây dựng và phát huy mạnh mẽ ‘thế trận lòng dân’ trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a, tr.157). Điều này phản ánh bước phát triển sâu sắc trong tư duy lý luận của Đảng về nguồn gốc sức mạnh quốc gia, trong đó niềm tin chính trị, sự đồng thuận xã hội và vai trò chủ thể của Nhân dân trở thành nền tảng căn bản của quốc phòng, an ninh.
Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tiếp tục cụ thể hóa tư duy bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghị quyết xác định: “Tập trung triển khai hiệu quả các đề án, dự án về tăng cường quốc phòng, an ninh kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội trên các hướng chiến lược của Tổ quốc. Thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế biển, vùng ven biển, khu vực biên giới gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2023, tr.9-10). Nghị quyết cho thấy Đảng đã phát triển tư duy kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội theo hướng chủ động, linh hoạt và thích ứng với môi trường an ninh mới. Phát triển vùng, phát triển biển, phát triển hạ tầng chiến lược không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn trực tiếp tạo lập thế bố trí chiến lược, nâng cao năng lực phòng thủ và khả năng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Đại hội XIV tiếp tục nâng cao tầm nhận thức lý luận của Đảng về quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nếu trước đây cách diễn đạt thường nhấn mạnh yêu cầu “phối hợp” giữa các lĩnh vực thì Văn kiện Đại hội XIV làm rõ hơn bản chất của mối quan hệ này là “sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố trong một chỉnh thể thống nhất để tạo sức mạnh tổng hợp cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.80), trong đó quốc phòng, an ninh không chỉ gắn liền mà còn định hướng, chi phối cấu trúc phát triển quốc gia. Văn kiện chỉ rõ những vấn đề toàn cầu như “an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh” diễn biến phức tạp; đồng thời nhấn mạnh các thách thức như khủng bố quốc tế, an ninh mạng và các hình thái chiến tranh mới tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia, dân tộc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.13-14). Văn kiện cũng xác định các vấn đề an ninh phi truyền thống như “an ninh con người, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức, tội phạm công nghệ cao, di cư bất hợp pháp, thảm hoạ môi trường, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, thiên tai” là những thách thức thường xuyên đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.22). Trên nền tảng đó, nội hàm an ninh trong Văn kiện không chỉ giới hạn ở bảo vệ lãnh thổ, biên giới, chủ quyền theo nghĩa truyền thống, mà bao quát cả bảo vệ ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ môi trường phát triển, bảo vệ đời sống Nhân dân và bảo đảm năng lực tự chủ chiến lược của đất nước. Đây là bước phát triển nhận thức lý luận quan trọng, phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện các nguy cơ an ninh kinh tế, xã hội, năng lượng, môi trường, mạng và an ninh con người ngày càng gắn kết chặt chẽ với nhau.
2.2. Một số định hướng tăng cường kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, cần tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ quan điểm kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trong toàn bộ quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, địa phương và vùng lãnh thổ cần được xây dựng trên cơ sở tích hợp yêu cầu quốc phòng, an ninh như một cấu phần chiến lược bắt buộc, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, việc đánh giá tác động quốc phòng, an ninh cần được đặt ngang tầm với đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình xây dựng, thẩm định và triển khai các chương trình, dự án phát triển. Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan hoạch định chiến lược phát triển với các cơ quan quốc phòng, an ninh nhằm bảo đảm sự tích hợp đồng bộ ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách. Trong điều kiện hiện nay, quốc phòng, an ninh không còn là lĩnh vực “đi sau” để xử lý hệ quả của phát triển, mà phải tham gia trực tiếp vào quá trình định hình mô hình tăng trưởng, tổ chức không gian phát triển và lựa chọn các ưu tiên chiến lược quốc gia. Quá trình thực hiện cần quán triệt nhất quán đường lối quốc phòng “bốn không”, khẳng định lập trường hòa bình, tự vệ, độc lập, tự chủ của Việt Nam; đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Thứ hai, việc tổ chức không gian phát triển và xây dựng mô hình phát triển vùng cần được tiếp cận trên cơ sở gắn kết chặt chẽ với quy hoạch tổng thể quốc phòng, an ninh, đặc biệt tại các địa bàn chiến lược như biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa và các cực tăng trưởng mới. Trong bối cảnh triển khai các nghị quyết phát triển vùng hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng mà còn phải đồng thời củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân gắn với khu vực phòng thủ vững chắc. Điều này đòi hỏi các quy hoạch phát triển phải bảo đảm tính liên thông giữa hạ tầng kinh tế với hạ tầng quốc phòng, giữa phát triển dân sinh với yêu cầu bảo vệ chủ quyền và giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Các khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp ven biển, đô thị biển, hệ thống giao thông chiến lược, hạ tầng logistics và hạ tầng số quốc gia cần được quy hoạch theo hướng vừa tạo động lực phát triển kinh tế, vừa nâng cao năng lực phòng thủ và khả năng ứng phó chiến lược của đất nước. Đây là cách tiếp cận phát triển tích hợp, trong đó mỗi không gian phát triển kinh tế đồng thời cũng là một không gian củng cố tiềm lực và thế trận quốc phòng, an ninh.
Trong mô hình phát triển mới, yêu cầu bảo đảm “an ninh tổng hợp” cần được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Theo đó, an ninh không chỉ giới hạn trong phạm vi chính trị hay quân sự, mà bao gồm cả an ninh kinh tế, an ninh xã hội, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh mạng và an ninh con người. Việc lồng ghép các yếu tố này vào quy hoạch và tổ chức phát triển sẽ góp phần hình thành không gian phát triển an toàn, ổn định và có khả năng thích ứng cao trước những biến động phức tạp của môi trường quốc tế và khu vực. Đây cũng là cơ sở để nâng cao năng lực tự cường quốc gia và củng cố nền tảng phát triển bền vững trong dài hạn.
Thứ ba, trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở, cần tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và hiệu lực quản trị của chính quyền các cấp trong thực hiện nhiệm vụ kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ các cấp cần được bồi dưỡng tư duy “phát triển gắn với bảo vệ”, nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa ổn định chính trị, xã hội với phát triển kinh tế, văn hóa và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Công tác cán bộ cần gắn với yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân”, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần tăng cường thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ, vai trò giám sát và sự tham gia của Nhân dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Việc củng cố niềm tin chính trị, tăng cường đồng thuận xã hội và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ có ý nghĩa xã hội mà còn trực tiếp tạo dựng nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong tình hình mới.
Thứ tư, trong lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu và truyền thông lý luận, cần đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành giữa khoa học chính trị, quốc phòng, an ninh và kinh tế - xã hội nhằm tiếp tục làm sâu sắc cơ sở lý luận của tư duy “phát triển trong bảo vệ”. Trong điều kiện chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều vấn đề an ninh mới đang đặt ra như an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh năng lượng, an ninh sinh thái và an ninh con người. Điều này đòi hỏi các cơ sở đào tạo lý luận chính trị, quốc phòng - an ninh cần đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo hướng tích hợp, hiện đại và gắn với thực tiễn phát triển đất nước. Bên cạnh đó, công tác truyền thông lý luận cần chuyển mạnh từ việc phổ biến khái niệm sang lan tỏa các mô hình, điển hình và kinh nghiệm thực tiễn về kết hợp hiệu quả giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức xã hội, củng cố niềm tin chính trị, phát huy tinh thần trách nhiệm công dân và tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thứ năm, trong công tác thẩm định, quản trị và giám sát các dự án phát triển, cần xây dựng và bổ sung hệ tiêu chí đánh giá về quốc phòng, an ninh và xã hội bên cạnh các chỉ tiêu kinh tế truyền thống. Mỗi dự án phát triển không chỉ cần được xem xét ở hiệu quả đầu tư hay tốc độ tăng trưởng, mà còn phải được đánh giá về tác động đối với ổn định chính trị - xã hội, khả năng củng cố thế trận quốc phòng, an ninh và nguy cơ phát sinh các rủi ro chiến lược. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các dự án tại địa bàn chiến lược, khu vực biên giới, biển, đảo, các công trình hạ tầng trọng yếu hoặc các lĩnh vực liên quan đến công nghệ, dữ liệu và an ninh năng lượng. Cách tiếp cận này phản ánh bước phát triển mới trong tư duy quản trị quốc gia của Đảng, theo hướng coi quốc phòng, an ninh không chỉ là lĩnh vực bảo vệ mà còn là tiêu chí kiểm soát chiến lược đối với toàn bộ tiến trình phát triển đất nước. Qua đó, góp phần định hình mô hình tăng trưởng an toàn, bền vững, có năng lực tự vệ và khả năng thích ứng cao trước những biến động phức tạp của môi trường quốc tế.
3. Kết luận
Từ cả phương diện lý luận và thực tiễn lãnh đạo, quan điểm, chủ trương của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội đã không ngừng được bổ sung, phát triển theo hướng ngày càng đầy đủ, toàn diện và hiện đại. Từ chỗ nhấn mạnh yêu cầu “kinh tế gắn với quốc phòng”, tư duy của Đảng từng bước phát triển thành nhận thức thống nhất về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển và bảo vệ Tổ quốc, trong đó quốc phòng, an ninh không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ mà còn tham gia định hướng mô hình phát triển và bảo đảm tính bền vững của chiến lược phát triển quốc gia. Đồng thời, phát triển kinh tế nhanh và bền vững được xác định là nền tảng vật chất quan trọng để củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, tăng cường nội lực và năng lực tự cường quốc gia. Đặc biệt, Đại hội XIV tiếp tục nâng tầm tư duy kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội theo hướng chủ động, tích hợp và bền vững hơn. Theo đó, quốc phòng, an ninh được lồng ghép ngay từ quá trình hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch ngành, vùng và tổ chức không gian phát triển; đồng thời, nội hàm của “an ninh” cũng được mở rộng theo hướng tổng hợp, thích ứng với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống trong bối cảnh mới.
Trong điều kiện toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra sâu rộng, việc tiếp tục nghiên cứu, luận giải sâu sắc hơn quan điểm của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là làm rõ hơn nội dung “an ninh” và “xã hội” trong cấu trúc phát triển, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện đường lối, nghị quyết và chính sách của Đảng trong giai đoạn tới; qua đó, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. ■
![]()
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2023). Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 47). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011a). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập II). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 3 (51) - 2026