PGS, TS. TRƯƠNG HỒ HẢI
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, Quốc hội
Email: tghohai@googlemail.com

Tóm tắt: Dịch vụ pháp lý giữ vai trò ngày càng quan trọng trong quản trị quốc gia hiện đại. Ở Việt Nam, thị trường dịch vụ pháp lý đã phát triển mạnh cả về chủ thể, loại hình và phạm vi cung ứng. Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này hiện còn phân tán trong nhiều đạo luật và văn bản dưới luật; khái niệm và phạm vi dịch vụ pháp lý chưa được xác định thống nhất; v.v. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật về dịch vụ pháp lý; phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn cung ứng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, chỉ ra những khoảng trống và sự thiếu thống nhất của pháp luật hiện hành, từ đó đề xuất các khuyến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng hình thành khung pháp lý thống nhất về dịch vụ pháp lý.

Từ khóa: Dịch vụ pháp lý, luật sư, trợ giúp pháp lý, bổ trợ tư pháp, tiếp cận công lý, pháp luật Việt Nam, Nhà nước pháp quyền

Improving the law on legal services in Vietnam

Abstract: Legal services play an increasingly important role in modern governance. In Vietnam, the legal services market has developed substantially in terms of service providers, service types, and scope of provision. However, the legal framework governing this field remains scattered across numerous statutes and subordinate legal instruments; the concept and scope of legal services have not been defined in a consistent manner; etc. This article clarifies the theoretical foundations of the law on legal services; analyzes the current state of the law and the practice of legal service provision in Vietnam; identifies gaps and inconsistencies in the existing legal framework; and, on that basis, proposes recommendations for improving the law with a view to establishing a unified legal framework for legal services.

Keywords: Legal services, lawyers, legal aid, judicial support, access to justice, Vietnamese law, rule-of-law state

(Ảnh minh họa. Nguồn: Thư viện Pháp luật)

1. Đặt vấn đề

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ đòi hỏi một hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch và khả thi, mà còn đòi hỏi phải thiết lập được những cơ chế để cá nhân, tổ chức có khả năng thực tế sử dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khoảng cách giữa “có quyền theo pháp luật” và “thực hiện được quyền trên thực tế” phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiếp cận thông tin pháp luật, tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, công chứng, trợ giúp pháp lý và các dịch vụ chuyên môn pháp lý khác. Vì thế, Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã đặt ra yêu cầu: “Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2022) và Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã định hướng: “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý, trợ giúp pháp lý” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025). Đây là một định hướng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cho thấy dịch vụ pháp lý không còn chỉ được nhìn nhận như hoạt động nghề nghiệp của một số chức danh tư pháp, mà phải được xem là một cấu phần của hạ tầng pháp quyền. Tuy nhiên, sự phát triển về số lượng chưa đồng nghĩa với việc đã hình thành một thị trường dịch vụ pháp lý hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Pháp luật hiện hành điều chỉnh dịch vụ pháp lý theo từng nghề và từng loại hình riêng biệt: Luật Luật sư, Luật Công chứng, Luật Trợ giúp pháp lý, pháp luật về tư vấn pháp luật, trọng tài thương mại, hòa giải thương mại, đấu giá tài sản, quản tài viên, cùng nhiều quy định về dịch vụ pháp lý trong pháp luật tố tụng, đầu tư, doanh nghiệp, thương mại, sở hữu trí tuệ và pháp luật chuyên ngành. Cách tiếp cận phân ngành này có ưu điểm là bảo đảm tính chuyên môn, nhưng đồng thời làm nảy sinh ba vấn đề lớn: một là, pháp luật Việt Nam chưa hình thành được một khái niệm pháp lý thống nhất về “dịch vụ pháp lý”, dẫn đến khó xác định ranh giới giữa hoạt động pháp lý chuyên nghiệp với tư vấn thông thường, giữa dịch vụ pháp lý với dịch vụ bổ trợ pháp lý và giữa các nghề luật với nhau; hai là, tiêu chuẩn gia nhập nghề, nghĩa vụ nghề nghiệp, trách nhiệm bồi thường, quản trị xung đột lợi ích, bảo mật thông tin và cơ chế bảo vệ khách hàng đang được quy định khác nhau giữa các loại hình dịch vụ; ba là, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng cung cấp dịch vụ trực tuyến đang làm thay đổi sâu sắc phương thức cung cấp dịch vụ pháp lý, trong khi pháp luật chủ yếu vẫn được xây dựng trên mô hình hành nghề truyền thống. 

Trong bối cảnh đó, hoàn thiện pháp luật về dịch vụ pháp lý không nên chỉ giới hạn ở việc sửa đổi từng đạo luật riêng lẻ, mà cần được tiếp cận từ yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái dịch vụ pháp lý thống nhất, trong đó Nhà nước xác lập tiêu chuẩn tối thiểu chung của thị trường, còn pháp luật chuyên ngành điều chỉnh những đặc thù của từng nghề. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, hệ thống hóa pháp luật, so sánh thể chế và phân tích chính sách công để trả lời ba vấn đề: (1) dịch vụ pháp lý cần được nhận diện như thế nào dưới góc độ pháp lý; (2) những hạn chế cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện nay là gì; (3) pháp luật về dịch vụ pháp lý cần được hoàn thiện theo mô hình nào trong giai đoạn mới.

2. Kết quả và thảo luận

2.1. Nhận thức chung về dịch vụ pháp lý dưới góc độ khoa học pháp lý

Dịch vụ pháp lý được hiểu là “loại hình dịch vụ do những tổ chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu được biết, được tư vấn hoặc giúp đỡ về mặt pháp lý của các tổ chức, cá nhân trong xã hội” (Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, 2006, tr.218). Theo quy định của WTO, dịch vụ này bao gồm: dịch vụ tư vấn pháp lý và đại diện liên quan đến luật hình sự, dịch vụ tư vấn pháp lý và đại diện trong các thủ tục tư pháp liên quan đến các lĩnh vực luật khác, dịch vụ tư vấn pháp lý và đại diện trong các thủ tục luật định của các tòa án, hội đồng bán tư pháp, dịch vụ chứng nhận tài liệu pháp lý và các thông tin tư vấn pháp lý khác. Như vậy, dịch vụ pháp lý chủ yếu bao gồm các dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ đại diện pháp lý, dịch vụ chứng nhận tài liệu pháp lý và các thông tin tư vấn, pháp lý khác. Trong đó: (1) dịch vụ tư vấn pháp luật là hoạt động cung cấp các ý kiến pháp lý, giải pháp của các chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý cho các cá nhân, tổ chức có yêu cầu; (2) dịch vụ đại diện pháp lý là hoạt động đại diện cho cá nhân, tổ chức có yêu cầu, thay mặt họ để thực hiện các công việc liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định pháp luật, bao gồm hoạt động đại diện cho quyền lợi của bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn, bị đơn trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động; tham gia bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự trong tố tụng trọng tài ở các tổ chức trọng tài thương mại (Nguyễn Văn Tuân, 2019, tr.13-19). Như thế, dịch vụ pháp lý trước hết là một loại hình dịch vụ chuyên môn. Đối tượng mà khách hàng tìm kiếm không phải là một sản phẩm vật chất mà là tri thức, kỹ năng, sự đại diện hoặc hành vi nghề nghiệp dựa trên pháp luật. Tuy nhiên, dịch vụ pháp lý khác với phần lớn dịch vụ chuyên môn khác ở chỗ kết quả của nó có thể tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền tài sản, tự do cá nhân, trách nhiệm hình sự, địa vị pháp lý của doanh nghiệp hoặc hiệu lực của một giao dịch. Vì vậy, Nhà nước không thể để thị trường dịch vụ pháp lý vận hành hoàn toàn theo nguyên tắc tự do kinh doanh. 

Có thể hiểu dịch vụ pháp lý là hoạt động nghề nghiệp do cá nhân hoặc tổ chức có đủ tiêu chuẩn theo pháp luật thực hiện, dựa trên kiến thức và kỹ năng pháp luật, nhằm tư vấn, đại diện, bào chữa, xác nhận hoặc hỗ trợ xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. 

Từ khái niệm trên, dịch vụ pháp lý có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, năm dấu hiệu đặc trưng của dịch vụ pháp lý: (1) dịch vụ pháp lý là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn; (2) nội dung cốt lõi của dịch vụ là áp dụng, giải thích hoặc vận dụng pháp luật đối với một trường hợp cụ thể; (3) chủ thể cung ứng phải đáp ứng những yêu cầu nhất định về năng lực, tư cách hoặc điều kiện hành nghề; (4) dịch vụ hướng đến việc xác lập, thực hiện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích pháp lý của người sử dụng; (5) người cung cấp phải chịu trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động của mình.

Thứ hai, dịch vụ pháp lý bao gồm dịch vụ pháp lý miễn phí và dịch vụ pháp lý có thu phí. Ở Việt Nam, trợ giúp pháp lý là dịch vụ pháp lý miễn phí, được cung cấp cho đối tượng được trợ giúp pháp lý theo luật định. Bao gồm: người công với cách mạng; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ; người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất ít người; người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV; người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại; người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi sự kiện này; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên; nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý; người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật (Điều 2, 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2026)). Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Điều 2, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2016)). Ngoài ra, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật, hòa giải viên thương mại cũng tham gia cung cấp dịch vụ pháp lý theo quy định của pháp luật (Nghị định số 77/2008/NĐ-CP, Nghị định số 05/2012/NĐ-CP, Nghị định số 18/2026/NĐ-CP và Nghị định 22/2017/NĐ-CP). Chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, công chứng viên, trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật, hòa giải viên, trọng tài viên, thừa phát lại, các thiết chế tư pháp - hành chính và các mô hình tư vấn pháp luật cộng đồng được pháp luật cho phép.

Thứ ba, dịch vụ pháp lý được chia thành ba tầng dịch vụ: (1) tầng thứ nhất là dịch vụ pháp lý cốt lõi, bao gồm tư vấn pháp luật, đại diện pháp lý, bào chữa và bảo vệ quyền lợi trong tố tụng. Đây là lĩnh vực điển hình của nghề luật sư; (2) tầng thứ hai là dịch vụ pháp lý có chức năng công hoặc chức năng chứng nhận pháp lý, như công chứng, trợ giúp pháp lý và một số hoạt động bổ trợ tư pháp; (3) tầng thứ ba là dịch vụ hỗ trợ pháp lý, như cung cấp cơ sở dữ liệu pháp luật, công nghệ pháp lý, hỗ trợ soạn thảo biểu mẫu, quản trị tuân thủ và các nền tảng kết nối khách hàng với người hành nghề. Việc phân tầng này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh phát triển khoa học, công nghệ. Không phải mọi hoạt động sử dụng công nghệ để cung cấp thông tin pháp luật đều phải bị coi là hành nghề luật; nhưng khi một nền tảng đưa ra tư vấn cá biệt hóa có khả năng ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, yêu cầu quản lý phải cao hơn.

Thứ , dịch vụ pháp vừa hàng hóa dịch vụ vừa là thiết chế bảo đảm công lý. Nếu chỉ nhìn dịch vụ pháp lý dưới góc độ thị trường, chính sách dễ thiên về tự do cạnh tranh. Nếu chỉ nhìn dưới góc độ tư pháp, chính sách lại dễ hành chính hóa nghề nghiệp. Cách tiếp cận phù hợp phải thừa nhận tính chất kép: một mặt, phần lớn dịch vụ pháp lý được cung ứng thông qua quan hệ hợp đồng, có giá, có cạnh tranh và chịu sự điều chỉnh của các quy luật thị trường; mặt khác, dịch vụ pháp lý góp phần bảo vệ trật tự pháp luật, bảo đảm quyền con người và chất lượng hoạt động tư pháp. Một luật sư không chỉ phục vụ khách hàng; sự hiện diện của luật sư còn góp phần bảo đảm tranh tụng. Công chứng viên không chỉ cung cấp một “dịch vụ có thu phí”; hoạt động công chứng còn thực hiện chức năng phòng ngừa tranh chấp. Trợ giúp viên pháp lý vừa thực hiện nghề nghiệp, vừa thực hiện trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền tiếp cận công lý. Do đó, thị trường dịch vụ pháp lý phải đồng thời đáp ứng bốn yêu cầu: tính độc lập nghề nghiệp; chất lượng chuyên môn; khả năng tiếp cận; và trách nhiệm giải trình. 

Thứ năm, pháp luật về dịch vụ pháp lý không chỉ gồm các quy định về luật sư. Xét theo cấu trúc điều chỉnh, nó phải bao gồm các nhóm quy phạm: (1) quy định xác định phạm vi hoạt động được coi là dịch vụ pháp lý; (2) điều kiện gia nhập và rút khỏi nghề; (3) quyền và nghĩa vụ của người hành nghề; (4) tổ chức và quản trị tổ chức cung cấp dịch vụ; (5) quan hệ giữa người cung cấp và khách hàng; (6) quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp; (7) trách nhiệm pháp lý, giải quyết khiếu nại, tranh chấp và bồi thường thiệt hại; (8) trong điều kiện chuyển đổi số cần bảo đảm quản trị dữ liệu, công nghệ và cung cấp dịch vụ pháp lý xuyên biên giới trên môi trường số. 

2.2. Thực trạng pháp luật và hoạt động dịch vụ pháp lý ở Việt Nam 

Thứ nhất, khung pháp luật về dịch vụ pháp lý đã từng bước được hình thành và hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hoạt động tương đối thuận lợi. 

Một , hoạt động dịch vụ pháp của luật

Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng pháp lý cho phát triển đội ngũ luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam. Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công, Việt Nam đang triển khai thí điểm chế định luật sư công tại tám bộ (Quốc phòng, Công an, Xây dựng, Tài chính, Tư pháp, Công Thương, Ngoại giao, Nông nghiệp và Môi trường) và Ủy ban nhân dân mười tỉnh, thành phố (thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bắc Ninh). Thực tế số lượng luật sư hành nghề trong gần 20 năm qua tăng hơn 5 lần, trung bình tăng gần 1.000 luật sư mỗi năm; trong đó phát triển chủ yếu tại các tỉnh, thành phố lớn, có điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của cá nhân, cơ quan, tổ chức cao (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội có 5.981 luật sư, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh có 9.880 luật sư; Đoàn Luật sư có số lượng trên 300 luật sư bao gồm Đồng Nai, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng, Tây Ninh, Vĩnh Long); tại một số địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, số lượng luật sư đã tăng lên so với thời điểm Luật Luật sư năm 2006 được ban hành (Cao Bằng từ 3 luật sư năm 2007 tăng lên 21 luật sư năm 2025; Điện Biên từ không có luật sư nào năm 2007 đã tăng lên 29 luật sư...); số lượng tổ chức hành nghề luật trên toàn quốc từ 1.323 tổ chức hành nghề luật sư năm 2007 lên hơn 6.300 tổ chức năm 2025 (Biểu đồ 1). Bên cạnh đó, còn có 101 tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài (40 chi nhánh, 61 công ty luật), 32 chi nhánh của công ty luật nước ngoài và hơn 300 luật sư nước ngoài đến từ nhiều quốc gia khác nhau như Anh, Pháp, Đức, Italy, Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Hồng Kông... đang có hoạt động hành nghề tại Việt Nam (Bộ Tư pháp, 2026a).

Các tổ chức hành nghề luật sư được phân bố tập trung tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ở các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ, số lượng tổ chức hành nghề luật sư cũng đã có sự gia tăng. Việc thành lập nhiều tổ chức hành nghề luật sư đã tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với dịch vụ pháp lý của luật sư. Công tác quản trị, điều hành của các tổ chức hành nghề tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chuyên nghiệp với việc đầu tư nghiêm túc cho hoạt động hành nghề. Tổ chức, quy mô và chất lượng hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư đã bài bản, chuyên nghiệp hơn. Một số tổ chức hành nghề luật sư có xu hướng hoạt động chuyên sâu trong các giao dịch đầu tư, mua bán - tái cấu trúc doanh nghiệp, thị trường vốn, sở hữu trí tuệ, hàng hải, logistics, tham gia tranh tụng và trọng tài thương mại có yếu tố nước ngoài và có xu hướng “quốc tế hóa” (Công ty luật YKVN, Quốc tế Việt Nam (Vilaf - Hồng Đức), Phạm và Liên danh, Bizlink, bizlaw, Denton Luật Việt, EPLaw, Dzung & Associates, Nam Hà Nội... đã tham gia nhiều giao dịch, vụ kiện có yếu tố nước ngoài, tư vấn cho Chính phủ trong các vấn đề liên quan đến hội nhập quốc tế), phát triển thị trường ra nước ngoài (một số tổ chức hành nghề luật sư đã cung cấp dịch vụ qua biên giới như Công ty luật TNHH YKVN có cơ sở hành nghề tại Singapore...); tuyển dụng luật sư nước ngoài làm việc.

Với quy định mở rộng phạm vi hành nghề (Điều 222, Luật Luật sư), đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động tham gia tố tụng của luật sư (Điều 27, Luật Luật sư), cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ của luật sư (Điều 21, Luật Luật sư), từ năm 2007 đến năm 2025, các luật sư đã tham gia 1.738.706 vụ, việc (trong đó có 364.467 vụ việc tố tụng, 1.069.119 việc tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác, 277.502 vụ việc trợ giúp pháp lý) (Bộ Tư pháp, 2026a). Thực tiễn giải quyết các vụ án tại tòa án trong những năm qua cho thấy về cơ bản, tỷ lệ vụ án có luật sư tham gia tố tụng có xu hướng tăng theo từng năm. Bên cạnh đó, 100% các vụ án theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng đều có luật sư tham gia để bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật. Thông qua hoạt động tham gia tố tụng, các luật sư đã tự khẳng định mình bằng năng lực chuyên môn, thể hiện được quyền bình đẳng với kiểm sát viên trong tranh tụng. Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư không những góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, giảm tình trạng oan sai, làm sáng tỏ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội mà còn hạn chế các vi phạm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; tạo điều kiện cho việc giải quyết các vụ án được nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật.

Bên cạnh đó, hoạt động tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, tổ chức trong lĩnh vực đầu tư, thương mại quốc tế đã từng bước tạo được uy tín trên thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực, trở thành “đối tác” cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài (Công ty luật TNHH Quốc Tế Việt Nam (Vilaf - Hồng Đức), YKVN, Tư vấn độc lập, Bizlink, LNT, Rajah & Tan). Các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư đã tích cực, chủ động tham gia trợ giúp, hợp tác với các công ty luật nước ngoài trong quá trình giải quyết vụ việc tranh chấp quốc tế mà trong đó một bên tham gia là Chính phủ Việt Nam. 

Hai là, hoạt động dịch vụ pháp lý của các Trung tâm trợ giúp pháp lý

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2026) và các văn bản hướng dẫn đã từng bước chuyển trọng tâm từ “số lượng hoạt động” sang “chất lượng vụ việc”, lấy người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm, hoàn thiện tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ. Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trong toàn quốc đã tập trung đổi mới công tác truyền thông và thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý. Số vụ việc trợ giúp pháp lý, đặc biệt là số vụ việc trợ giúp pháp lý theo hình thức tham gia tố tụng tăng nhanh: từ ngày 01/01/2018 đến 30/09/2025, toàn quốc có 258.225 vụ việc trợ giúp pháp lý kết thúc, trong đó có 160.140 vụ việc tham gia tố tụng (chiếm 62,01% tổng số vụ việc); 95.797 vụ việc tư vấn pháp luật; 2.218 vụ việc đại diện ngoài tố tụng (Bộ Tư pháp, 2025). Chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý ngày càng được quan tâm, chú trọng. Nhiều vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng được đánh giá là hiệu quả, thành công: từ ngày 01/01/2018 đến hết 31/12/2024 có 43.938 vụ việc thành công (chiếm 31,5% tổng số vụ việc tham gia tố tụng) (Bộ Tư pháp, 2025). Thông qua các vụ việc trợ giúp pháp lý cụ thể, quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý được bảo vệ khi có tranh chấp, vướng mắc pháp luật, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý và hiện thực hóa chủ trương “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Vai trò của người thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt là trợ giúp viên pháp lý ngày càng được ghi nhận. Người dân ngày càng tin tưởng và lựa chọn trợ giúp viên pháp lý thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý: trong số 43.938 vụ việc thành công, trợ giúp viên pháp lý thực hiện 37.996 vụ việc thành công, chiếm 86% tổng số vụ việc thành công (Bộ Tư pháp, 2025). Trợ giúp viên pháp lý đã có chức danh nghề nghiệp hạng cao nhất (hạng I), qua đó, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của trợ giúp viên pháp lý trong hệ thống chức danh nghề nghiệp viên chức. Những kết quả mà công tác trợ giúp pháp lý đạt được trong thời gian qua đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao, góp phần “giảm nghèo” về pháp luật và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Ba là, hoạt động dịch vụ pháp lý khác

Trong lĩnh vực công chứng, Luật Công chứng năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2026) và các văn bản hướng dẫn đã tạo cơ sở pháp lý để thực hiện cơ chế xã hội hóa, tổ chức hành nghề, cơ sở dữ liệu và từng bước tạo cơ sở cho công chứng điện tử. Hoạt động công chứng đã tiếp tục khẳng định vị thế là thiết chế “công lý phòng ngừa”, là “lá chắn an toàn” bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Tính đến năm 2025, mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng phát triển rộng khắp với 1.524 tổ chức, với hơn 3.796 công chứng viên trên cả nước, thực hiện hơn 17 triệu việc công chứng, tổng số phí công chứng thu được đạt hơn 14.000 tỷ đồng (Bộ Tư pháp, 2026b).

Dịch vụ pháp trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng hình thành và phát triển khá mạnh mẽ. Trên cơ sở Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022, 2025) các văn bản hướng dẫn, ở nước ta đã hình thành một mạng lưới các Tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp đủ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Do Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về sở hữu công nghiệp nên lĩnh vực dịch vụ này có điều kiện phát triển, đáp ứng được các yêu cầu của hội nhập. Trong giai đoạn 2021 - 2025, Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận gần 765.075 đơn sở hữu công nghiệp, xử gần 754.252 đơn và cấp hơn 285.980 văn bằng bảo hộ (Bảng 1). Đặc biệt, công tác xử lý đơn sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực cả về tiến độ lẫn chất lượng thẩm định.

Ngoài ra, hệ thống pháp luật Việt Nam còn điều chỉnh nhiều nghề và thiết chế liên quan đến dịch vụ pháp lý, như: đấu giá tài sản, trọng tài thương mại, hòa giải thương mại, quản tài viên và Thừa phát lại/Thừa hành viên. Theo Nghị định số 09/2026/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Bộ có chức năng quản lý nhà nước, hướng dẫn và kiểm tra đối với luật sư, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, công chứng, giám định tư pháp, đấu giá tài sản, trọng tài thương mại, hòa giải thương mại và quản tài viên (Khoản 10, Điều 2). Các dịch vụ pháp lý trong phương thức trọng tài gồm các dịch vụ do trọng tài viên thực hiện; dịch vụ đại diện cho các bên trong vụ tranh chấp; một số dịch vụ khác như giám định, thư ký... do các tổ chức, cá nhân thực hiện. Dịch vụ đại diện pháp lý của các bên thông thường do các luật sư, luật gia hoặc bất kỳ ai mà các bên tín nhiệm để làm đại diện cho các bên tham gia tố tụng trọng tài, kể cả tham gia thương lượng, hòa giải.

Thứ hai, hệ thống pháp luật về dịch vụ pháp lý còn chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ, tản mạn ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, gây khó khăn trong quá trình thực hiện.

Một là, dịch vụ pháp lý tại Việt Nam được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau nhưng chưa có một khái niệm cụ thể và thống nhất. Theo các quy định hiện hành thì dịch vụ pháp lý ở Việt Nam có thể bao gồm: các dịch vụ liên quan đến thủ tục tố tụng, các dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ đại diện pháp lý, các dịch vụ pháp lý khác. Trong khi đó, Luật Luật sư hiện hành và các văn bản hướng dẫn quy định dịch vụ pháp lý do luật sư cung cấp; Nghị định số 77/2008/NĐ-CP, Nghị định số 05/2012/NĐ-CP và Nghị định số 18/2026/NĐ-CP cho phép một số tổ chức, tư vấn viên thực hiện tư vấn; công chứng được điều chỉnh bởi Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn; trợ giúp pháp lý được quy định bởi Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn; trong khi nhiều hoạt động có tính chất pháp lý tiếp tục tồn tại ở nhiều văn bản pháp luật khác, như Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn, Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án và các văn bản hướng dẫn, Luật Trọng tài thương mại và các văn bản hướng dẫn... Thực tế này dẫn đến nội hàm khái niệm chưa thống nhất, hình thức tổ chức hành nghề còn bó hẹp, cơ chế cạnh tranh bị giới hạn và thiếu hành lang pháp lý đồng bộ cho luật sư nội bộ doanh nghiệp (Nguyễn Bích Phượng, 2026). Khoảng trống này ngày càng đáng chú ý khi các nền tảng trực tuyến có thể cung cấp mẫu hợp đồng, giải đáp pháp luật, phân tích hồ sơ hoặc kết nối khách hàng với người tư vấn. Nếu pháp luật chỉ quản lý theo tên gọi chủ thể, rất dễ xảy ra tình trạng cùng một nội dung tư vấn nhưng người có chứng chỉ nghề phải chịu nhiều nghĩa vụ nghề nghiệp, trong khi một chủ thể khác cung cấp dịch vụ tương tự dưới tên gọi “tư vấn doanh nghiệp”, “hỗ trợ thủ tục”, “giải pháp pháp lý” hoặc thông qua nền tảng công nghệ lại không chịu cùng một chuẩn trách nhiệm. 

Hai là, pháp luật được thiết kế theo “nghề” nhiều hơn theo “dịch vụ”. Mỗi luật xác định một chức danh, điều kiện hành nghề, tổ chức nghề nghiệp và phạm vi công việc. Cách tiếp cận này phù hợp trong giai đoạn hình thành nghề nhưng ngày càng bộc lộ hạn chế trong nền kinh tế dịch vụ liên ngành. Một giao dịch đầu tư có thể cần luật sư, công chứng viên, trọng tài viên, tư vấn thuế, kiểm toán viên và chuyên gia sở hữu trí tuệ. Một vụ phá sản có thể liên quan luật sư, quản tài viên, thẩm định viên và đấu giá viên. Khách hàng nhìn thấy một chuỗi dịch vụ, trong khi pháp luật quản lý nhiều nghề riêng rẽ. Kết quả là tiêu chuẩn trách nhiệm nghề nghiệp, nghĩa vụ bảo mật, xử lý xung đột lợi ích và giải quyết khiếu nại không đồng nhất. 

Ba là, bảo vệ người sử dụng dịch vụ pháp lý chưa trở thành một trục điều chỉnh độc lập. Khách hàng dịch vụ pháp lý thường ở tình trạng bất cân xứng thông tin rất lớn. Họ khó đánh giá trước chất lượng của một luật sư, công chứng viên hoặc chuyên gia pháp lý. Vì vậy, pháp luật hiện đại không thể chỉ quản lý “đầu vào” bằng văn bằng và chứng chỉ mà cần quản lý cả “quá trình” và “đầu ra”, trong đó cần trả lời các câu hỏi: người cung cấp dịch vụ pháp lý phải công khai những thông tin gì? có được quảng cáo về tỷ lệ thắng kiện không? phải thông báo phí thế nào? khi có xung đột lợi ích phải xử lý ra sao? nếu tư vấn sai gây thiệt hại, cơ chế bồi thường nào bảo vệ khách hàng? tổ chức nghề nghiệp có hệ thống xử lý khiếu nại độc lập và công khai kết quả kỷ luật đến mức nào? Mặc dù pháp luật Việt Nam đã được đề cập một số nội dung này, nhưng chưa hình thành một hệ thống thống nhất.

Bốn là, cơ chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp chưa được phát triển tương xứng. Dịch vụ pháp lý là hoạt động có nguy cơ gây thiệt hại lớn: một sai sót trong tư vấn thời hiệu, một điều khoản hợp đồng được soạn không chính xác, một giao dịch đất đai được xác nhận không đúng hoặc vi phạm bảo mật thông tin có thể gây thiệt hại rất lớn. Trong mô hình quản trị nghề nghiệp hiện đại, bảo hiểm trách nhiệm không chỉ nhằm bảo vệ người hành nghề mà quan trọng hơn là bảo vệ khách hàng. Trong khi đó, các quy định pháp luật hiện hành ở nước ta chưa quy định nghĩa vụ bảo hiểm bắt buộc đối với các nhóm dịch vụ có rủi ro cao này, với mức bảo hiểm tương ứng quy mô hoạt động.

Thứ ba, những yêu cầu hoàn thiện pháp luật về dịch vụ pháp lý trong giai đoạn mới

Một là, bảo đảm quyền tiếp cận công lý phải là mục tiêu cao nhất. Mục tiêu cuối cùng của chính sách pháp luật về dịch vụ pháp lý không chỉ tăng số luật sư hoặc số tổ chức hành nghề, mà làm cho người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận dịch vụ pháp lý phù hợp với nhu cầu, với chi phí hợp lý và chất lượng đáng tin cậy. Vì thế, việc hoàn thiện pháp luật về dịch vụ pháp lý phải đảm bảo sự công bằng cho mọi người dân đều được tiếp cận các dịch vụ pháp lý với chất lượng tốt nhất.

Hai là, phát triển thị trường dịch vụ pháp lý nhưng phải kiểm soát chất lượng dịch vụ. Vì thế, cần chuyển trọng tâm quản lý nhà nước đối với dịch vụ pháp lý từ kiểm soát hành chính sang chuẩn nghề nghiệp - minh bạch thông tin - trách nhiệm hậu kiểm; hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý.

Ba là, thích ứng với chuyển đổi số. Cổng Pháp luật quốc gia, cơ sở dữ liệu công chứng, định danh điện tử và hệ thống dữ liệu dân cư đang tạo điều kiện để tái cấu trúc hoạt động dịch vụ pháp lý. Pháp luật tương lai phải thừa nhận mô hình “hybrid”: luật sư trực tiếp + nền tảng số + AI. Sự kết hợp giữa luật sư trực tiếp, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra hệ sinh thái pháp lý hiện đại. Mô hình này giúp tối ưu hóa thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí tư vấn và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý cho mọi người. Tuy nhiên, pháp luật cần xác định mức độ rủi ro và cơ chế bảo vệ quyền lợi cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ pháp lý theo mô hình này (Trần Duy Cảnh và cộng sự, 2026).

3. Kết luận và khuyến nghị

Hệ thống pháp luật về dịch vụ pháp lý ở Việt Nam đã hình thành và từng bước hoàn thiện, nhưng vẫn còn những hạn chế. Do đó, trong giai đoạn tới, Việt Nam cần đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật về dịch vụ pháp lý, trong đó: xác lập phạm vi dịch vụ pháp lý; xây dựng cơ chế trách nhiệm bảo vệ quyền lợi khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý; bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ pháp lý của mọi người dân; xây dựng các tổ chức hành nghề dịch vụ pháp lý Việt Nam có năng lực cạnh tranh quốc tế... Để thực hiện được mục tiêu này, Việt Nam cần thực hiện các khuyến nghị sau:

(1) Giai đoạn 2026 - 2027, tập trung hoàn thiện pháp luật luật sư (trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư hiện hành), ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Công chứng 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2026) và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2026); đồng thời rà soát toàn bộ quy định liên quan dịch vụ pháp lý.

(2) Giai đoạn 2027 - 2028, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về người hành nghề pháp lý, tích hợp với Cổng Pháp luật quốc gia; chuẩn hóa cơ chế định danh nghề nghiệp cung cấp dịch vụ pháp lý; xây dựng cơ chế bảo vệ quyền lợi khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý và xử lý khiếu nại.

(3) Giai đoạn 2028 - 2030, nghiên cứu xây dựng Luật về dịch vụ pháp lý. Trong đó quy định các nội dung: (i) phạm vi, khái niệm, nguyên tắc; (ii) phân loại dịch vụ pháp lý; (iii) quyền và nghĩa vụ của người cung cấp dịch vụ pháp lý; (iv) quyền của khách hàng; (v) trách nhiệm nghề nghiệp và bảo hiểm; (vi) dịch vụ pháp lý số và xuyên biên giới; (vii) quản lý nhà nước, tự quản và dữ liệu; (viii) khiếu nại, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp. 

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Khoa học và Công nghệ. (2026). Số liệu nổi bật lĩnh vực sở hữu trí tuệ giai đoạn 2021-2025. https://mst. gov.vn/so-lieu-noi-bat-linh-vuc-so-huu-tri-tue-giai- doan-2021-2025-197260107143529077.htm
  2. Bộ Tư pháp. (2025). Báo cáo tổng kết thi hành Luật Trợ giúp pháp lý. Hà Nội.
  3. Bộ Tư pháp. (2026a). Báo cáo tổng kết thi hành Luật Luật sư. Hà Nội.
  4. Bộ Tư pháp. (2026b). Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng: Xây dựng đội ngũ công chứng viên vững chính trị, giỏi chuyên môn, đáp ứng yêu cầu phát triển mới. https:// moj.gov.vn/portal/tin-tuc/chi-tiet/bo-truong-hoang- thanh-tung-xay-dung-oi-ngu-cong-chung-vien-vung- chinh-tri-gioi-chuyen-mon-ap-ung-yeu-cau-phat- trien-moi-tfvutn3825.html
  5. Trần Duy Cảnh và cộng sự. (2026). Sử dụng AI trong hành nghề luật sư: Ranh giới giữa hiệu quả công việc và đạo đức nghề nghiệp. https://lsvn.vn/su-dung-ai-trong- hanh-nghe-luat-su-ranh-gioi-giua-hieu-qua-cong- viec-va-dao-duc-nghe-nghiep-a175439.html
  6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so- 27-nqtw-ngay-09112022-hoi-nghi-lan-thu-sau-ban- chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-ve-tiep-tuc- xay-dung-va-9016
  7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. https://tulieuvankien. dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua- dang/nghi-quyet-so-66-nqtw-ngay-3042025-cua-bo- chinh-tri-ve-doi-moi-cong-tac-xay-dung-va-thi-hanh- phap-luat-dap-ung-yeu-11561
  8. Nguyễn Bích Phượng. (2026). Đặc thù của thị trường dịch vụ pháp lý Việt Nam. https://everest.org.vn/dac- thu-cua-thi-truong-dich-vu-phap-ly-viet-nam
  9. Nguyễn Văn Tuân. (2019). Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam: thực trạng và định hướng phát triển. Nhà xuất bản Lao động.
  10. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp. (2006). Từ điển Luật học. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp.

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 04(52)-2026