PGS, TS. NGUYỄN XUÂN PHONG
Học viện Chính trị khu vực IV

Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận về con đường phát triển đất nước khi nhấn mạnh yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, tạo dựng sức sản xuất mới và từng bước hình thành phương thức sản xuất mới chất lượng cao. Trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế xanh được xác định là ba động lực nền tảng của phương thức sản xuất mới. Trên cơ sở quan điểm của Đại hội lần thứ XIV về phát triển lực lượng sản xuất mới, kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, bài viết tiếp cận kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế xanh như ba động lực cơ bản thúc đẩy sự hình thành phương thức sản xuất mới; đánh giá thực trạng phát triển và sự tác động của các động lực này ở Việt Nam; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình hiện thực hóa phương thức sản xuất mới, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Phương thức sản xuất mới, động lực, kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, lực lượng sản xuất mới, Đại hội lần thứ XIV

The fundamental drivers of the new mode of production in Viet Nam in the digital era

Abstract: The 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam marked a new stage in the theoretical development of Viet Nam’s development pathway by emphasizing the need to develop modern productive forces, foster new productive capacity, and progressively establish a high-quality new mode of production. Grounded in science and technology, innovation, and digital transformation, the knowledge economy, digital economy, and green economy are identified as the three fundamental drivers of this new mode of production. This article clarifies the Party’s conception of the new mode of production; analyzes the roles and interrelationships of the knowledge economy, digital economy, and green economy as the three fundamental drivers of the new mode of production; assesses the current state of their influence and development in Viet Nam; and proposes a number of policy recommendations to accelerate the realization of the new mode of production, thereby meeting the requirements for rapid and sustainable development in the current period.

Keywords: New mode of production, fundamental drivers, knowledge economy, digital economy, green economy, new productive forces, 14th National Congress

(Ảnh minh họa. Nguồn: Báo Nhân dân)

1. Đặt vấn đề

Lịch sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với sự vận động và thay thế của các phương thức sản xuất. Mỗi bước phát triển của lực lượng sản xuất đều tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế - xã hội và đặt ra yêu cầu hoàn thiện tương ứng đối với quan hệ sản xuất. Phương thức sản xuất từ đó cũng có sự biến đổi theo. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành những yếu tố quan trọng quyết định năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Sau 40 năm tiến hành đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động chi phí thấp đang bộc lộ những hạn chế nhất định. Yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi phải hình thành, khơi dậy các động lực tăng trưởng mới và từng bước xây dựng phương thức sản xuất mới phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, tạo dựng sức sản xuất mới và phương thức sản xuất mới chất lượng cao trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh. Đây là định hướng chiến lược có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

2. sở luận phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận

Bài viết được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; đồng thời kế thừa các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển lực lượng sản xuất mới, đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng phương thức sản xuất mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu; phương pháp lịch sử và lôgic; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp hệ thống hóa nhằm làm rõ nội hàm của phương thức sản xuất mới, đánh giá thực trạng tác động của các động lực đối với sự phát triển phương thức sản xuất mới và đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam hiện nay.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Quan niệm của Đảng về phương thức sản xuất mới

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong đó, lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định đối với sự vận động và phát triển của xã hội, còn quan hệ sản xuất có chức năng tạo lập môi trường thể chế để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. 

Ngay từ thế kỷ XIX, C.Mác đã dự báo xu hướng khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi cho rằng, trình độ phát triển của xã hội được phản ánh ở mức độ mà tri thức xã hội được chuyển hóa thành sức mạnh sản xuất (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.372). Dự báo đó ngày càng trở nên hiện thực trong thời đại kinh tế tri thức và chuyển đổi số hiện nay.

Kế thừa và phát triển tư duy đổi mới qua các kỳ đại hội của Đảng, Đại hội lần thứ XIV đã có bước phát triển trong nhận thức lý luận khi đặt vấn đề tạo ra “sức sản xuất mới” và “phương thức sản xuất mới chất lượng cao”, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của tăng trưởng. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV khẳng định: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống. Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.377-378). Điều đó phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào các yếu tố truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và dữ liệu. 

Từ tinh thần của Văn kiện Đại hội lần thứ XIV, có thể nhận diện phương thức sản xuất mới ở Việt Nam hiện nay thông qua bốn đặc trưng cơ bản.

Thứ nhất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nếu trong nền sản xuất công nghiệp truyền thống, khoa học - công nghệ chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ thì trong nền kinh tế hiện đại, tri thức khoa học, công nghệ số và đổi mới sáng tạo đang trực tiếp tạo ra giá trị, quyết định năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ hai, dữ liệu và công nghệ số trở thành tư liệu sản xuất mới. Trong nền kinh tế số, dữ liệu không còn là sản phẩm phụ của quá trình quản lý mà đang trở thành nguồn lực chiến lược. Cùng với vốn, lao động và tài nguyên, dữ liệu đang nổi lên như một yếu tố sản xuất đặc biệt quan trọng, làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức sản xuất, quản trị và phân phối.

Thứ ba, quan hệ sản xuất được hoàn thiện theo hướng kiến tạo phát triển. Đại hội lần thứ XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ vai trò của các thành phần kinh tế, khơi thông và giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển. Đây chính là cơ sở để thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất mới trong điều kiện hội nhập và chuyển đổi số.

Thứ tư, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố trung tâm của lực lượng sản xuất hiện đại. Trong phương thức sản xuất mới, lợi thế cạnh tranh không còn chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ mà dựa vào trình độ tri thức, năng lực sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ của con người.

Như vậy, phương thức sản xuất mới mà Đại hội lần thứ XIV định hướng xây dựng là phương thức sản xuất dựa trên nền tảng tri thức, dữ liệu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo; được vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao trong khuôn khổ thể chế hiện đại và gắn chặt với mục tiêu phát triển xanh, phát triển bền vững. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định: “Thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới, trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng xã hội số, thân thiện với môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.386). Trong cấu trúc đó, kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế xanh không chỉ là những xu hướng phát triển riêng lẻ mà chính là ba trụ cột nền tảng của phương thức sản xuất mới ở Việt Nam hiện nay.

Từ đây có thể hiểu: Phương thức sản xuất mới là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất mới, được ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng, với đặc trưng nổi bật là sự chi phối của tri thức, công nghệ số, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và mạng lưới kết nối toàn cầu đối với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị xã hội.

3.2. Kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế xanh - ba động lực cơ bản của phương thức sản xuất mới

3.2.1. Kinh tế tri thức là động lực mang tính nền tảng

Sự ra đời của kinh tế tri thức phản ánh bước phát triển mới của lực lượng sản xuất trong thời đại khoa học và công nghệ. Nếu trong nền kinh tế công nghiệp, nguồn lực quyết định là vốn vật chất và máy móc thì trong nền kinh tế tri thức, tri thức, thông tin và đổi mới sáng tạo trở thành nguồn lực sản xuất quan trọng nhất.

Theo OECD, kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức. Bản chất của kinh tế tri thức không nằm ở sự gia tăng số lượng thông tin mà ở khả năng chuyển hóa tri thức thành năng suất, hiệu quả và giá trị gia tăng.

Trong phương thức sản xuất mới, kinh tế tri thức giữ vai trò động lực nền tảng bởi ba lý do cơ bản:

Thứ nhất, tri thức là nguồn gốc của đổi mới sáng tạo. Mọi công nghệ mới, sản phẩm mới và mô hình kinh doanh mới đều bắt nguồn từ quá trình tích lũy và sáng tạo tri thức. Những yếu tố này hội tụ, tạo động lực cho phương thức sản xuất mới.

Thứ hai, kinh tế tri thức làm thay đổi cơ cấu của lực lượng sản xuất. Lao động trí tuệ ngày càng thay thế lao động giản đơn; nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia.

Thứ ba, kinh tế tri thức tạo tiền đề cho sự phát triển của kinh tế số và kinh tế xanh. Không có tri thức khoa học và đổi mới sáng tạo sẽ không thể hình thành các công nghệ số hiện đại hay các giải pháp công nghệ xanh phục vụ phát triển bền vững.

3.2.2. Kinh tế số là động lực trực tiếp

Nếu kinh tế tri thức tạo ra nền tảng của sức sản xuất, phương thức sản xuất mới thì kinh tế số chính là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất trong thời đại hiện nay. Bản chất của kinh tế số là quá trình số hóa các nguồn lực, quy trình và hoạt động kinh tế trên cơ sở dữ liệu, công nghệ số và các nền tảng kết nối. 

Trong nền kinh tế số, dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất mới đặc biệt quan trọng. Khác với các yếu tố sản xuất truyền thống như đất đai, vốn hay lao động, dữ liệu có khả năng tái sử dụng gần như vô hạn, liên tục được bổ sung và gia tăng giá trị thông qua quá trình phân tích, xử lý và ứng dụng. Sự kết hợp giữa dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và internet vạn vật đang tạo ra một hệ sinh thái sản xuất hoàn toàn mới, trong đó quá trình ra quyết định ngày càng dựa trên dữ liệu thay vì kinh nghiệm.

Vai trò động lực của kinh tế số đối với phương thức sản xuất được thể hiện trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, kinh tế số làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức sản xuất. Các doanh nghiệp ngày càng vận hành theo mô hình thông minh, tự động hóa và kết nối thời gian thực. Chuỗi cung ứng, logistics, sản xuất, phân phối và tiêu dùng được tích hợp trên các nền tảng số, làm giảm đáng kể chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Thứ hai, kinh tế số tạo ra những mô hình kinh doanh mới. Sự phát triển của thương mại điện tử, kinh tế nền tảng, kinh tế chia sẻ, tài chính số và dịch vụ số đang mở ra những không gian phát triển mới cho nền kinh tế.

Thứ ba, kinh tế số thúc đẩy sự hình thành lực lượng sản xuất mới. Trong nền sản xuất số, con người, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo được kết nối thành một chỉnh thể thống nhất, tạo ra năng suất lao động vượt trội so với các mô hình sản xuất truyền thống.

Chính vì vậy, Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định kinh tế số và kinh tế dữ liệu là trọng tâm của phương thức sản xuất mới chất lượng cao, là động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

3.2.3. Kinh tế xanh là động lực mang tính định hướng phát triển bền vững của phương thức sản xuất mới

Nếu kinh tế tri thức tạo ra nền tảng và kinh tế số tạo ra động lực tăng trưởng thì kinh tế xanh bảo đảm tính bền vững của phương thức sản xuất mới.

Trong nhiều thập niên, tăng trưởng kinh tế trên thế giới chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và sử dụng năng lượng hóa thạch. Mô hình này đã tạo ra những thành tựu to lớn nhưng đồng thời cũng dẫn tới suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên. Trong bối cảnh đó, kinh tế xanh trở thành xu hướng phát triển tất yếu của nhân loại.

Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc, kinh tế xanh là nền kinh tế vừa nâng cao phúc lợi con người, vừa giảm thiểu các rủi ro môi trường và bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. 

Trong cấu trúc của phương thức sản xuất mới, kinh tế xanh có ba vai trò nổi bật.

Thứ nhất, định hướng quá trình phát triển theo hướng bền vững. Mục tiêu của tăng trưởng không chỉ là gia tăng GDP mà còn bảo đảm chất lượng môi trường sống và lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai.

Thứ hai, thúc đẩy đổi mới công nghệ và đổi mới mô hình sản xuất. Những yêu cầu về giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng và sử dụng hiệu quả tài nguyên đang tạo động lực cho sự phát triển của các công nghệ xanh, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn.

Thứ ba, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa xanh. Các tiêu chuẩn môi trường, phát thải carbon và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chí quan trọng của thương mại quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu.

Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế xanh không chỉ là yêu cầu của hội nhập quốc tế mà còn là điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước trong dài hạn. Cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đòi hỏi phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững hơn.

3.3. Những định hướng thúc đẩy các động lực cơ bản của phương thức sản xuất mới

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phát triển

Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm vừa tuân theo các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, cần khẩn trương xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế nền tảng, trí tuệ nhân tạo, tài sản số và kinh tế xanh. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi và bình đẳng cho mọi chủ thể kinh tế. Thể chế cần trở thành động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tạo điều kiện cho việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học. Đây là yêu cầu mang tính nền tảng để khơi thông mọi nguồn lực phát triển, phát huy sức sáng tạo của toàn xã hội và hình thành các động lực tăng trưởng mới. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường... khơi thông các nguồn lực cho phát triển, hình thành các động lực tăng trưởng mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.265).

Thứ hai, tạo đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải thực sự trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn phát triển mới. Để thực hiện mục tiêu này, cần triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tăng tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Đồng thời, cần hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo tầm quốc gia và khu vực, các khu công nghệ cao và các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có khả năng kết nối với mạng lưới sáng tạo toàn cầu. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, Việt Nam cần ưu tiên phát triển các công nghệ chiến lược có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và năng lực cạnh tranh như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, điện toán đám mây, dữ liệu lớn và công nghệ năng lượng mới. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn là điều kiện để đất nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đảng xác định rõ: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.266-267).

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Con người là trung tâm, chủ thể và nguồn lực quan trọng nhất của quá trình phát triển. Vì vậy, cần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển năng lực, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với môi trường công nghệ số và nền kinh tế tri thức. Hệ thống giáo dục phải gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của thị trường lao động, tăng cường đào tạo các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), đồng thời phát triển các kỹ năng số, kỹ năng đổi mới sáng tạo và kỹ năng học tập suốt đời. Bên cạnh đó, cần xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học và kỹ sư trình độ cao trong những lĩnh vực công nghệ chiến lược; đồng thời có cơ chế đủ mạnh để thu hút, trọng dụng nhân tài trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia phát triển đất nước. Nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ quyết định khả năng hấp thụ công nghệ mà còn quyết định năng lực sáng tạo công nghệ mới. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV nhấn mạnh: “Chú trọng đào tạo, cung ứng nhân lực cho những ngành kinh tế mũi nhọn, ngành kinh tế mới tạo đột phá cho phát triển kinh tế nhanh và bền vững (kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn)” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.267-268).

Thứ tư, phát triển đồng bộ hạ tầng số và dữ liệu quốc gia 

Trong nền kinh tế số, hạ tầng số đóng vai trò tương tự như hệ thống giao thông trong nền kinh tế công nghiệp. Do đó, cần tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng số hiện đại, đồng bộ, bảo đảm tốc độ cao, kết nối rộng khắp và an toàn. Các nhiệm vụ trọng tâm bao gồm phát triển mạng viễn thông thế hệ mới, mở rộng phủ sóng 5G và tiến tới 6G, xây dựng các trung tâm dữ liệu quốc gia, hệ thống điện toán đám mây và nền tảng dữ liệu lớn phục vụ quản trị quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội. Song song với đó là xây dựng hệ sinh thái dữ liệu mở, kết nối dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân, coi dữ liệu là nguồn tài nguyên mới của nền kinh tế. Việc bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và chủ quyền dữ liệu quốc gia cần được xem là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong quá trình chuyển đổi số. Đảng xác định: “Tập trung phát triển, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ... hạ tầng số, hạ tầng xanh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.286).

Thứ năm, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

Doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất, chuyển hóa các thành tựu khoa học và công nghệ thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Vì vậy, cần xây dựng doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ số, công nghệ xanh và chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng hiện đại. Đặc biệt, cần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ số và các doanh nghiệp khoa học - công nghệ. Việc hình thành các doanh nghiệp có năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và tạo ra những động lực tăng trưởng mới.

Thứ sáu, đẩy mạnh chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn

Đây là yêu cầu tất yếu nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm tài nguyên thiên nhiên ngày càng nghiêm trọng. Cần khuyến khích mạnh mẽ việc phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng công nghệ sạch, sản xuất và tiêu dùng bền vững; thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn nhằm giảm thiểu chất thải và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên. Đồng thời, từng bước hình thành và phát triển thị trường carbon, hoàn thiện cơ chế định giá carbon và thúc đẩy các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính theo các cam kết quốc tế. Việc xây dựng hệ sinh thái tài chính xanh, tín dụng xanh và trái phiếu xanh sẽ tạo nguồn lực quan trọng cho quá trình chuyển đổi. Chuyển đổi xanh không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn mở ra những ngành nghề, thị trường và cơ hội tăng trưởng mới cho nền kinh tế.   

Thứ bảy, tăng cường hội nhập quốc tế và làm chủ công nghệ chiến lược 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, Việt Nam cần chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia - dân tộc. Cần mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, hội nhập không chỉ nhằm tiếp nhận công nghệ mà còn phải hướng tới mục tiêu làm chủ công nghệ. Do đó, cần có chiến lược dài hạn để từng bước nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ nguồn và công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghệ sinh học và năng lượng mới. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, tăng sức chống chịu trước các biến động bên ngoài và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trong dài hạn.

4. Kết luận

Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã mở ra bước phát triển mới trong nhận thức lý luận về con đường phát triển đất nước khi đặt trọng tâm vào việc hình thành sức sản xuất mới và phương thức sản xuất mới chất lượng cao. Để thúc đẩy phương thức sản xuất mới đó, kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế xanh giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Kinh tế tri thức tạo ra nguồn lực sáng tạo và nền tảng khoa học cho phát triển; kinh tế số tạo động lực trực tiếp nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh; kinh tế xanh định hướng toàn bộ quá trình phát triển theo hướng bền vững. Sự kết hợp hữu cơ giữa ba yếu tố mang tính động lực này sẽ quyết định thành công của quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất mới, mô hình tăng trưởng và xây dựng nền kinh tế hiện đại ở Việt Nam.

Tạo động lực mạnh mẽ, phát triển đồng bộ kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế xanh không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là con đường chiến lược để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. 

Tài liệu tham khảo

  1. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995). Toàn tập (Tập 46, phần II). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  3. Chính phủ. (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://vanban. chinhphu.vn/?docid=204226&pageid=27160
  4. Bộ Thông tin và Truyền thông. (2024). Báo cáo chuyển đổi số quốc gia năm 2024. https://chuyendoiso.laocai. gov.vn/ban-chi-dao-chuyen-doi-so-quoc-gia/bao-cao- chuyen-doi-so-nam-2024-cua-bo-thong-tin-va-truyen- thong-1319570

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 04(52)-2026