PGS, TS. VŨ QUANG VINH
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: vinhqhqt@yahoo.com.vn

Tóm tắt: Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyền con người là giá trị chung của nhân loại, gắn với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, trách nhiệm công dân và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Trải qua 96 năm phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, giảm nghèo bền vững, mở rộng an sinh xã hội và phát triển con người. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn một số hạn chế về chênh lệch phát triển, chất lượng dịch vụ công, an sinh xã hội và việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục bảo đảm tốt quyền con người ở Việt Nam trong thời gian tới.

Từ khóa: Quyền con người, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội lần thứ XIV của Đảng

Continuing to ensure the effective protection of human rights in Viet Nam in the spirit of the 14th National Congress of the Party

Abstract: From the perspective of the Communist Party of Viet Nam, human rights constitute a common value of humankind, closely associated with national independence, national sovereignty, civic responsibility, and the goals of socialism. Over the past 96 years of national development under the Party’s leadership, the people’s living standards have steadily improved, sustainable poverty reduction has been achieved, social security has been expanded, and human development has been advanced. However, Viet Nam still faces certain limitations, including development disparities, the quality of public services, social security, and the exercise of the People’s mastery. In the spirit of the 14th National Congress, this article proposes several solutions to further ensure the effective protection of human rights in Vietnam in the coming period.

Keywords: Human rights, Communist Party of Viet Nam, 14th National Congress of the Party

Quang cảnh Hội nghị Tổng kết Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017-2025. (Ảnh: VGP/Gia Huy. Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ)

1. Đặt vấn đề

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo đời sống của Nhân dân, bởi theo Người “nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.64). Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, đồng thời chắt lọc tinh hoa pháp luật nhân quyền quốc tế, phù hợp với điều kiện nước ta để hoàn thiện lý luận về quyền con người. Quan điểm của Đảng ta về quyền con người được thể hiện trong nhiều văn kiện quan trọng, như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII, Văn kiện Đại hội lần thứ XIV. Trong đó, đúc kết một số nội dung cơ bản về quyền con người: (1) quyền con người là một giá trị chung của nhân loại; (2) dưới tiền đề độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, quyền con người được bảo đảm một cách rộng rãi, trọn vẹn và đầy đủ; (3) quyền tự do, dân chủ của cá nhân kết hợp chặt chẽ với quyền tập thể, không tách khỏi trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; (4) quyền dân tộc cơ bản gắn với quyền con người thuộc phạm vi chủ quyền của mỗi quốc gia; (5) lịch sử, truyền thống gắn với quyền con người, phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế, văn hóa của quốc gia; (6) mục tiêu, bản chất và động lực của chế độ xã hội chủ nghĩa là thực hiện, đảm bảo quyền con người; (7) công nhận, bảo vệ, tôn trọng, bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật về quyền con người, quyền công dân; (8) tích cực, chủ động hợp tác, sẵn sàng đối thoại, kiên quyết đấu tranh vì quyền con người trong quan hệ quốc tế.

Trên cơ sở đó, bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa để làm rõ ba vấn đề sau: (i) sự phát triển tư duy của Đảng về quyền con người; (ii) những kết quả và hạn chế trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới đất nước; (iii) các định hướng tiếp tục bảo đảm quyền con người theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

2. Kết quả và thảo luận

2.1. Sự phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người

Khắc phục những hạn chế trong nhận thức trước đây về quyền con người, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội lần thứ VI của Đảng với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”, “đánh giá đúng sự thật” và “nói rõ sự thật” đã khẳng định: “Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và đảm bảo những quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.446 - 447). Quan điểm này đã được cụ thể hóa trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, do đó, nhận thức về quyền con người ở nước ta đã có bước chuyển biến rõ rệt. Tiếp đến, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), đã xác định rõ: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, tr.145). Trên cơ sở đó, ngày 12/7/1992 Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII đã ban hành Chỉ thị về Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta. Đây là văn kiện chính thức đầu tiên về quyền con người được Đảng ban hành, thể hiện rõ tư duy đổi mới của Đảng về quyền con người, bao gồm các quan điểm: quyền con người được coi là giá trị của nhân loại, là kết quả đấu tranh lâu dài của xã hội loài người; vấn đề đó không tách rời phạm trù chủ quyền quốc gia, quyền dân tộc, trình độ phát triển của dân tộc và truyền thống văn hóa, lịch sử; giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội; quyền lợi không tách khỏi nghĩa vụ; dân chủ phải đi cùng kỷ cương; quyền con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội; quyền con người xuất phát từ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1992).

Các nhiệm kỳ tiếp theo của Đảng, nhận thức về quyền con người tiếp tục được hoàn thiện. Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016a, tr.218). Tiến thêm một bước lớn trong bảo vệ quyền con người, Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ đạo: “Phải đảm bảo quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.100). Đặc biệt trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, tiếp tục quan điểm chỉ đạo của Đại hội lần thứ XIII, Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ đạo: “lấy con người làm trung tâm, nâng cao phúc lợi toàn dân; bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng ... “không để ai bị bỏ lại phía sau”... “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.109, 120 - 121). Các quan điểm chỉ đạo đó của Đảng cho thấy rõ, bảo vệ và phát huy quyền con người là trách nhiệm chung của tất cả các cấp, các ngành và địa phương. Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy của Đảng về quyền con người, tạo định hướng xây dựng chính sách, luật pháp và thực hiện nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền con người trong thực tiễn Việt Nam. 

2.2. Hoàn thiện thể chế và cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Dựa trên các quan điểm của Đảng về quyền con người, trong 40 năm đổi mới đất nước, Việt Nam có bước biến đổi sâu sắc, quan trọng trong lĩnh vực lập hiến, lập pháp, hoàn thiện thể chế, chế bảo đảm quyền con người. Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam đã xây dựng hệ thống pháp luật về quyền con người tương đối toàn diện, trong đó đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), đây là bản Hiến pháp có những bước tiến vượt trội về tư duy bảo vệ quyền con người trong hoạt động lập hiến. Với bản Hiến pháp này, lần đầu tiên Việt Nam đã cụ thể quyền con người và cơ chế bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp (quy định tại Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân). Việc hiến định này đã phân định tương đối rành mạch giữa quyền con người và quyền công dân (từ Điều 14 đến Điều 39). Bên cạnh đó, Hiến pháp lần đầu tiên hiến định việc giới hạn quyền: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2, Điều 14) và quy định rõ trách nhiệm bảo vệ quyền con người: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14). Ngoài ra, Hiến pháp còn quy định một số quyền mới: quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác; quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa; quyền được sống trong môi trường trong lành (khoản 3, Điều 20, Điều 41, 43).

Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền công dân tiếp tục được hoàn thiện trên các lĩnh vực quyền cụ thể: (1) quyền dân sự, chính trị (Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Thực hành dân chủ ở cơ sở, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tư pháp người chưa thành niên...) (2) quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (Bộ luật Dân sự, Luật Chăm sóc sức khỏe nhân dân, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Báo chí, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Dữ liệu cá nhân, Luật Căn cước, Luật Nhà ở, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật An ninh mạng...); (3) quyền của nhóm dễ bị tổn thương (Luật Trẻ em, Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)...). 

Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức báo chí, truyền thông tiếp tục hoàn thiện tổ chức và hoạt động nhằm bảo vệ quyền con người ngày một tốt hơn: 

Một là, Quốc hội hoàn thiện về tổ chức, hoạt động nhằm nâng cao chất lượng lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao. Thông qua hoạt động của Quốc hội, hệ thống pháp luật về quyền con người tiếp tục được hoàn thiện; các chính sách lớn về quyền con người tiếp tục được thể chế hóa; quyền làm chủ của người dân tiếp tục được củng cố và mở rộng.

Hai là, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, hiện đại, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, quản trị quốc gia; hoạch định và triển khai thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm môi trường hòa bình, an ninh, an toàn, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo bền vững.

Ba là, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân hoàn thiện tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm công lý, bảo đảm tốt quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Nhiều nguyên tắc mới trong hoạt động tố tụng đã được triển khai, như: độc lập trong xét xử, tranh tụng, xét xử hai cấp, quyền được im lặng của bị can, bị cáo, suy đoán vô tội,... qua đó góp phần bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, cũng không làm oan sai.

Bốn là, Chính quyền địa phương tiếp tục được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, tổ chức theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhằm mở rộng không gian phát triển mới, phát huy lợi thế địa phương, tận dụng tối đa nguồn lực phát triển; chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

Năm là, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức báo chí, truyền thông được sắp xếp, tổ chức lại nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, thực hiện tốt chức năng đại diện cho quyền lợi của hội viên; tuyên truyền, vận động hội viên thực hành tốt chính sách, pháp luật; thực hiện tốt hoạt động cứu trợ, cứu nạn, giúp đỡ người cơ nhỡ, khó khăn, nghèo đói; thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội. 

2.3. Kết quả bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong 40 năm đổi mới đất nước

Chiến lược kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới đất nước đã xác định: “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.162). Điều này cho thấy, Đảng, Nhà nước đã đặt con người vào vị trí trung tâm của phát triển để khơi dậy tiềm năng của mọi cá nhân, tổ chức, của cộng đồng dân tộc. Thực tế, vai trò làm chủ của Nhân dân trong phát triển kinh tế, tham gia quản lý kinh tế được nhận thức ngày một rõ hơn; mở rộng, hoàn thiện cơ chế, quy chế dân chủ để Nhân dân phản biện xã hội, đóng góp ý kiến và giám sát hoạt động của Đảng và Nhà nước; quy định chế độ cung cấp thông tin, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước với Nhân dân ngày càng hoàn thiện. Mọi người được tôn trọng quyền tự do kinh doanh theo pháp luật để làm giàu cho bản thân, đóng góp cho xã hội. Trong 40 năm đổi mới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể: “Thu nhập bình quân đầu người trước đây chưa đến 100 USD (năm 1990), đạt 640 USD năm 2005, năm 2010 đạt 1.168 USD” (Vũ Quang Vinh, 2018); đến năm 2015, “bình quân đầu người khoảng 2.109 USD” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016b, tr.225); đến năm 2025, “GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.47).

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021 - 2025) công tác bảo đảm an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững đạt nhiều kết quả quan trọng: “Các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025. Đẩy mạnh thực hiện Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội; thành lập Quỹ nhà ở quốc gia. Đến tháng 9/2025, hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước. Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên được mở rộng, đạt trên 3,5 triệu người năm 2025, trong đó 55% là người cao tuổi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.52).

Phát triển văn hóa, con người và xã hội đạt nhiều kết quả rất quan trọng, nhiều mặt tiến bộ; an sinh xã hội và đời sống Nhân dân ngày càng được nâng cao, cụ thể như sau: 

Một là, người dân được tiếp cận và thụ hưởng văn hóa tốt hơn, đời sống văn hóa - nghệ thuật phong phú hơn, nhiều giá trị di sản được bảo tồn và quảng bá. “Hệ thống thiết chế văn hóa được quan tâm xây dựng và phát huy. Các hoạt động văn hóa, sản phẩm văn hóa, nghệ thuật ngày càng đa dạng, phong phú. Công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa và thị trường văn hóa từng bước được phát triển. Hội nhập quốc tế về văn hóa ngày càng được mở rộng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.50). 

Hai là, Việt Nam hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước trên lĩnh vực giáo dục, ở một số tỉnh, thành phố, đồng bằng từng bước phổ cập giáo dục trung học cơ sở: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đạt được một số kết quả quan trọng. Nội dung, phương thức giáo dục và đào tạo có sự đổi mới; chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các cấp học được nâng lên. Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng. Đặc biệt, đã thực hiện miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đã sớm triển khai chủ trương đầu tư xây dựng các trường học nội trú liên cấp ở các xã biên giới đất liền” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.51).

Ba là, hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân có bước phát triển tích cực, chất lượng được nâng lên, kiểm soát tốt các loại dịch bệnh, làm chủ nhiều công nghệ, kỹ thuật y học tiên tiến: “Đã chú trọng thực hiện chế độ thông tuyến khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế. Y tế tư nhân tiếp tục phát triển. Tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Tuổi thọ và chỉ số sức khỏe người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 năm, số năm sống khỏe khoảng 67 năm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.52-53).

Đến nay, “An sinh xã hội ngày càng được bảo đảm; phúc lợi xã hội ngày càng được cải thiện. Các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”; “Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.51, 52); sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy, đồng thuận xã hội được tăng cường, củng cố. Việt Nam là điểm sáng được thế giới đánh giá cao về an toàn và ổn định xã hội.

2.4. Hạn chế trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới, chúng ta còn gặp không ít những khó khăn và thách thức. Một số quyền dân sự, chính trị còn bất cập: “Hoạt động giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn nhiều lúng túng, chất lượng chưa cao. Quyền làm chủ của Nhân dân chưa được thể chế hóa đầy đủ, có lúc, có nơi còn bị vi phạm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.69). Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa nhiều lúc, nhiều nơi chưa thực hiện tốt: “An sinh xã hội, an ninh con người, phúc lợi xã hội chưa được bảo đảm vững chắc. Chính sách dân số và phát triển chưa theo kịp yêu cầu thực tế. Sự phân hóa giàu - nghèo có xu hướng gia tăng. Một số vấn đề của xã hội số chậm được nhận diện và thiếu cơ chế xử lý kịp thời. Hạ tầng giao thông, điện, nước ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn. Dịch vụ y tế còn nhiều hạn chế, nhất là y tế cơ sở, y tế dự phòng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.67).

2.5. Định hướng tiếp tục bảo đảm tốt quyền con người theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV

Để khắc phục những hạn chế trên, các cơ quan chức năng cần tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ sau: 

Thứ nhất, tiếp tục kiện toàn tổ chức, nâng cao vai trò của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong đảm bảo quyền con người; hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm đảm bảo được quyền bầu cử, ứng cử của người dân, thực sự lựa chọn được người có đức, có tài phục vụ đất nước và Nhân dân.

Thứ hai, tiếp tục rà soát hệ thống pháp luật hiện hành, xác định rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung, đảm bảo tính thống nhất trong các văn bản luật, dưới luật, đồng thời tiếp tục nội luật hóa các điều khoản trong Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết để phù hợp với hệ thống pháp luật quốc gia, tạo cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo độc lập dân tộc, quyền con người; xử lý nghiêm những trường hợp cố tình vi phạm quyền con người của Nhân dân.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội để “tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội”, tích cực hợp tác quốc tế, tranh thủ thu hút các nguồn đầu tư để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; triển khai nhiều chính sách, biện pháp ưu tiên cho những nhóm dễ bị tổn thương, thu hẹp dần khoảng cách phân hóa giàu nghèo, tạo nền tảng để thực hiện quyền bình đẳng, tự do, dân chủ của người dân, hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030: “Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống còn dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%. Tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 - 2030) duy trì mức giảm 1 - 1,5 điểm%/năm. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.85).

Thứ tư, nâng cao nhận thức của người dân và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước về quyền con người. Đối với người dân, cần tăng cường giáo dục, phổ biến kiến thức pháp luật để mỗi cá nhân nhận thức đầy đủ các quyền được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, đồng thời hiểu rõ thực tiễn bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam. Điều này giúp người dân chủ động thực hiện quyền, biết sử dụng các cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tích cực tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giám sát và phản biện xã hội; đồng thời hạn chế tình trạng thờ ơ, lệ thuộc, hiểu sai hoặc lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là những người trực tiếp thực thi pháp luật và giải quyết công việc của Nhân dân, cần nhận thức quyền con người là những quyền vốn có của con người, được Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

3. Kết luận

Bảo đảm quyền con người là một nội dung xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm của Đảng về quyền con người ngày càng được hoàn thiện, gắn chặt với mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và phát triển con người toàn diện. Triển khai đồng bộ các định hướng trên nhằm khắc phục các hạn chế về an sinh xã hội, chênh lệch phát triển, chất lượng dịch vụ công và cơ chế thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân; đồng thời qua đó hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến 2045: Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.25).

Tài liệu tham khảo

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1992). Chỉ thị số 12-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta. Hà Nội.
  2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2001). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 47). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2007). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 51). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  5. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016a). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 60). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  8. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 4). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  9. Vũ Quang Vinh. (2018). Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trong Đại thắng mùa xuân 1975 với sự nghiệp đổi mới. https:// baochinhphu.vn/ban-linh-tri-tue-viet-nam-trong-dai- thang-mua-xuan-1975-voi-su-nghiep-doi-moi-xay- dung-va-bao-ve-to-quoc-102238082.htm

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 04(52)-2026