Tóm tắt: Trong mọi giai đoạn, thời kỳ lịch sử, con người luôn là nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của cách mạng cũng như công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, vấn đề xây dựng, phát triển con người Việt Nam đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên bên cạnh đó là không ít khó khăn, thách thức. Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những mặt hạn chế, Đại hội lần thứ XIV của Đảng đề ra nhiều quan điểm mới về phát triển con người Việt Nam toàn diện. Bài viết góp phần làm rõ những thành quả đạt được, những bất cập, hạn chế; từ đó, đề xuất một số giải pháp phát triển con người Việt Nam toàn diện, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Phát triển con người Việt Nam, Đại hội lần thứ XIV
Comprehensive development of Vietnamese people in the spirit of the 14th National Congress of the Party
Abstract: In every stage and period of history, human beings have always been the most important factor determining the success or failure of revolutions as well as the construction of socialism. After 40 years of implementing the Doi Moi (Renovation) policy, the issue of building and developing Vietnamese people has achieved many successes; however, there are also many difficulties and challenges. To build upon the achievements and overcome limitations, the 14th National Congress of the Party put forward many new perspectives on the comprehensive development of Vietnamese people. This article contributes to clarifying the achievements, shortcomings, and limitations, and from there proposes some solutions for the comprehensive development of Vietnamese people, making a positive contribution to the rapid and sustainable development of the country in the new context.
Keywords: Vietnamese human development, 14th National Congress

1. Đặt vấn đề
Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, vấn đề chăm lo phát triển con người Việt Nam toàn diện luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, đầu tư, qua đó đạt được nhiều thành tựu, kết quả, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng số, bên cạnh những tác động tích cực còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức mới đặt ra trong việc đảm bảo an ninh, an toàn và phát triển con người Việt Nam toàn diện. Bài viết nhấn mạnh những điểm mới trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng về phát triển con người Việt Nam toàn diện; những kết quả đạt được và những khó khăn, thách thức đặt ra; từ đó, đề xuất giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách để chăm sóc, phát triển toàn diện con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu, bài viết tiếp cận từ phương diện thể chế, chính sách; sử dụng tài liệu thứ cấp, đồng thời có những luận giải, so sánh, đối chiếu để thấy được quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về phát triển con người Việt Nam toàn diện cũng như những biến chuyển trong đời sống vật chất, tinh thần của con người Việt Nam trong 40 năm đổi mới.
2. Kết quả và thảo luận
2.1. Quan điểm của Đại hội lần thứ XIV của Đảng về phát triển con người toàn diện
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.66). Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, con người được xác định là nhân tố quan trọng, then chốt nhất. Vì thế trong nhiều bài viết, bài nói chuyện, Người luôn căn dặn các cấp, các ngành phải có kế hoạch, chính sách thật tốt để đào tạo, bồi dưỡng, hình thành nên những con người mới - con người xã hội chủ nghĩa với những đức tính, phẩm chất tốt đẹp “vừa hồng vừa chuyên”.
Kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo phát triển con người, trong 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách, tạo mọi cơ hội, điều kiện thuận lợi để con người phát triển toàn diện.
Một trong những đặc trưng, mục tiêu của xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta hướng đến xây dựng, đó là xã hội “do nhân dân làm chủ”; “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.14).
Nhấn mạnh vai trò của nhân tố con người trong quá trình phát triển đất nước, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.20).
Đánh giá về quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về chăm lo, phát triển con người, Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện được xác định là một mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; coi phát triển văn hóa và xây dựng con người là nhân tố nội sinh cốt lõi và động lực của sự phát triển bền vững... con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Phát triển con người toàn diện, không chỉ tập trung vào những phẩm chất, năng lực, kỹ năng của con người mà chú ý khắc phục những mặt hạn chế, bất cập của con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đồng thời với các điều kiện vật chất và tinh thần để xây dựng và phát triển con người toàn diện... Trong xây dựng, phát triển con người, nguồn nhân lực được xác định là chìa khóa, là đột phá chiến lược để phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.55-56).
Để phát huy tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội XIV của Đảng đặc biệt nhấn mạnh đến nhân tố, nguồn lực quan trọng, then chốt nhất, đó là vấn đề con người.
Từ quan điểm chỉ đạo đến việc xác định các nhiệm vụ trọng tâm, Đảng đều nhấn mạnh yêu cầu: “Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân”, “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.82); “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn với xây dựng, hoàn thiện con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.99); “Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.145). Những quan điểm này là những định hướng quan trọng nhằm phát huy tối đa nhân tố con người - động lực và nguồn lực quan trọng hàng đầu, giữ vai trò quyết định đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh mới.
2.2. Những thành tựu trong phát triển con người Việt Nam thời gian qua
Đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được cải thiện, nâng cao. Thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường, đổi mới phương thức sản xuất, giải phóng sức lao động đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), năm 1986, khi bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, GDP Việt Nam đạt khoảng 8 tỷ USD. Trong số 9/10 quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam chỉ xếp trên Myanmar (5,15 tỷ USD). Năm 2025, quy mô GDP theo giá hiện hành ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD), cao gấp 64 lần so với những năm đầu đổi mới; GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD). Nếu tính từ thời điểm năm 1986 đến 2025, GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 100 USD năm 1986 lên hơn 5.000 USD vào năm 2025, đưa Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao (Hoàng Minh, 2026). Thu nhập bình quân trên đầu người gia tăng, cho thấy đời sống vật chất được cải thiện, con người có thêm nhiều điều kiện để chăm lo, phát triển bản thân, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Các chính sách an sinh xã hội được đảm bảo. Với chủ trương phát triển bền vững, bao trùm, “không ai bị bỏ lại phía sau”, nhiều chính sách ưu việt mang tính đột phá của Nhà nước đã được ban hành như chính sách về phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; chính sách về chăm sóc sức khỏe, y tế, bảo hiểm toàn dân; chính sách giảm nghèo đa chiều;... đã từng bước nâng cao chất lượng đời sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và chênh lệch vùng miền, đảm bảo tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nhấn mạnh vào những thành tựu đạt được trong đảm bảo an sinh xã hội, Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các cấp học được nâng lên... đã thực hiện miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đã sớm triển khai chủ trương đầu tư xây dựng các trường học nội trú liên cấp ở các xã biên giới đất liền” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.51). “Các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. “Tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025. Đẩy mạnh thực hiện Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội; thành lập Quỹ nhà ở quốc gia. Đến tháng 9/2025, hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước. Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên được mở rộng, đạt trên 3,5 triệu người năm 2025, trong đó 55% là người cao tuổi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.52). “Hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân có bước phát triển tích cực, chất lượng được nâng lên, kiểm soát tốt các loại dịch bệnh, làm chủ nhiều công nghệ, kỹ thuật y học tiên tiến... Tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Tuổi thọ và chỉ số sức khỏe người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 năm, số năm sống khỏe khoảng 67 năm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.52-53).
Đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, chính sách an sinh xã hội được đảm bảo, môi trường xã hội lành mạnh với các giá trị nhân văn, nhân bản được lan tỏa đã góp phần phát triển con người Việt Nam toàn diện. “Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.51).
Với mục tiêu hướng đến xã hội quốc gia hùng mạnh, xã hội khá giả, người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, Đại hội XIV của Đảng đề ra mục tiêu phấn đấu: “tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD... Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống còn dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%. Tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 - 2030) duy trì mức giảm 1 - 1,5 điểm%/năm. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.84-85).
Bằng nhiều quyết sách đã được ban hành với các chương trình hành động cụ thể của Đảng, Nhà nước, con người Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội, điều kiện để không ngừng phát triển bản thân, hoàn thiện nhân cách, từ đó có nhiều cống hiến vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới.
2.3. Những khó khăn, thách thức
Bên cạnh những thành tựu, kết quả đạt được, việc chăm lo, phát triển con người Việt Nam toàn diện cũng đối diện với không ít khó khăn, thách thức do những tác động bất lợi của nhân tố chủ quan và khách quan đến từ tình hình phức tạp của khu vực và quốc tế.
Một là, tình trạng phân hóa giàu nghèo và sự chênh lệch về mức sống giữa các vùng miền. Xã hội ngày càng hiện đại, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra với tốc độ nhanh chóng giúp vùng nông thôn tiến gần với đô thị, thành phố. Tuy nhiên mặt trái của đô thị hóa, công nghiệp hóa làm biến đổi và phân tầng, phân hóa xã hội sâu sắc khi khoảng cách giữa nhóm có thu nhập cao nhất (tầng lớp trung lưu ở đô thị, thành phố) với nhóm có thu nhập thấp (người nghèo ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa) ngày càng gia tăng. Đồng thời sự chênh lệch về mức thụ hưởng, tiếp cận các loại hình dịch vụ văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục giữa các vùng miền ngày càng lớn, đặt ra nhiều vấn đề về phát triển bền vững, cân bằng và bao trùm.
Hai là, tình trạng già hóa dân số. Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 của Tổng cục Thống kê cho thấy: “dân số Việt Nam tiếp tục già hóa khi số lượng người già từ 60 tuổi trở lên hiện gấp 1,25 lần so với năm 2019 và tăng 4,7 triệu người (gấp 1,5 lần) so với năm 2014. Dự báo đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên tăng gần 4 triệu người so với năm 2024” (Lê Nga, 2025). Tỉ lệ người cao tuổi gia tăng trong khi tỉ lệ sinh có xu hướng giảm dẫn đến những gánh nặng về đảm bảo an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe cho người già. Tình trạng “chưa giàu đã già” dẫn đến những áp lực về tăng trưởng, chăm sóc sức khỏe Nhân dân và sự phát triển bền vững của quốc gia.
Ba là, hiện tượng băng hoại và sự xuống cấp đạo đức xã hội. Việt Nam gia nhập Internet toàn cầu năm 1997. Sau hơn 20 năm, Internet tại Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh với số người dùng đông đảo so với các nước trong khu vực và thế giới. Sự ra đời của các nền tảng số, mạng xã hội đem lại nhiều cơ hội trong tiếp cận thông tin, giao lưu, kết nối giữa các cá nhân, cộng đồng, các quốc gia. Tuy nhiên mặt trái của Internet, mạng xã hội đã và đang tác động lớn đến việc hình thành nhân cách, lối sống của con người, nhất là thế hệ trẻ. Sự xuất hiện của các thông tin xấu độc, các luồng tư tưởng cực đoan, các trang web đen, các trò chơi trực tuyến có nội dung bạo lực, nạn nghiện game online và lối sống ảo, sự tấn công của các thế lực thù địch, nạn lừa đảo, đánh bạc trực tuyến, hàng giả hàng nhái, nạn mua bán người, ma túy, mại dâm, truyền bá tà đạo... diễn ra sôi động trên không gian mạng, đã và đang gây ra những hệ lụy cho xã hội, làm suy đồi đạo đức, đầu độc tâm hồn giới trẻ, làm lệch lạc nhân cách con người. Nhận định về những bất cập, hạn chế trong xây dựng, phát triển con người Việt Nam thời gian qua, Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Chưa tạo lập đồng bộ cơ chế, chính sách, môi trường xã hội cần thiết cho sự phát triển toàn diện con người... Môi trường văn hoá chưa thật sự lành mạnh; đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống cấp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.65-66).
Để khắc phục những mặt hạn chế đó, Đại hội XIV của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng văn hóa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm bảo vệ, gìn giữ thuần phong mỹ tục, tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết, nghĩa tình, trọng đạo lý, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Phát triển, lan tỏa các giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức; tăng cường “sức đề kháng” của văn hóa, chống lại mọi sự “xâm lăng” về văn hóa; bài trừ các hình thức văn hóa lai căng, hủ lậu ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục; đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.100).
2.4. Giải pháp phát triển con người Việt Nam toàn diện trong kỷ nguyên mới
Để phát huy những mặt tích cực, thành quả đạt được, đồng thời khắc phục những bất cập, hạn chế, hướng đến xây dựng, hình thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có những giải pháp cơ bản như:
Thứ nhất, cần nhận thức sâu sắc, đầy đủ về vai trò, vị trí đặc biệt của nhân tố con người. Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội, là những cá thể làm nên cộng đồng, xã hội. Không có con người chung chung, trừu tượng mà là những con người cụ thể có lý tưởng, khát vọng, niềm tin, có nhu cầu, mục đích rõ ràng. Con người là trung tâm, mục tiêu, động lực và là chủ thể quan trọng bậc nhất quyết định đến sự thành công của kỷ nguyên vươn mình, thúc đẩy quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Nhận thức đúng, đủ, sâu sắc về vai trò, vị trí đặc biệt của nhân tố con người, các cấp ủy đảng, chính quyền khi xây dựng chính sách sẽ đặt con người vào trung tâm của chiến lược phát triển. Đồng thời sẽ có những cơ chế phù hợp, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất để mỗi người phát huy năng lực, sở trường, sức sáng tạo, có nhiều cống hiến vào sự phát triển chung của đất nước. Phát triển, tăng trưởng kinh tế nhằm mục tiêu phát triển con người toàn diện, đảm bảo định hướng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đó là: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.14).
Thứ hai, khẩn trương xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời đại mới. Các văn kiện của Đảng đã xác định tương đối rõ những giá trị, chuẩn mực và phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên để triển khai và lan tỏa giá trị, chuẩn mực con người Việt Nam trong bối cảnh mới cần sự thống nhất, đồng thuận của toàn xã hội. Bên cạnh những giá trị, chuẩn mực chung cần xây dựng các giá trị, chuẩn mực phù hợp với đặc điểm không gian văn hóa vùng miền, với từng cộng đồng, tộc người, đảm bảo tính đa dạng văn hóa.
Hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam cần được xác lập rõ ràng, thể chế hóa trong nghị quyết chuyên đề của Đảng về phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới và cụ thể hóa bằng các nghị định của Chính phủ; đồng thời, được tích hợp vào các chương trình giáo dục, tuyên truyền bằng những hình thức đa dạng, sinh động trên các phương tiện truyền thông đa phương tiện, nền tảng mạng xã hội và môi trường Internet.
Thứ ba, cần có những giải pháp căn cơ, lâu dài để khắc phục những mặt bất cập, hạn chế của con người Việt Nam bằng việc xây dựng cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý đầy đủ; nâng cao ý thức tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đạo đức xã hội, chuẩn mực cộng đồng, vi phạm pháp luật, đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe và giáo dục. Phát huy những giá trị tích cực của hương ước, lệ làng và luật tục phù hợp với pháp luật và đời sống hiện đại. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn, trong sạch từ trong gia đình, nhà trường đến xã hội; kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại; giữa xây và chống; lấy “cái đẹp dẹp cái xấu”; kịp thời biểu dương, tôn vinh và nhân rộng những tấm gương điển hình, những con người mới có nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp, qua đó định hướng giá trị, truyền cảm hứng và dẫn dắt sự phát triển của con người và xã hội.
Thứ tư, làm sạch không gian, môi trường số. Không gian, môi trường số là nhu cầu thiết yếu, là nơi con người tương tác, trải nghiệm và thể hiện căn tính, sắc thái cá nhân, thiết lập các mối quan hệ, tìm kiếm các đối tác mới. Quản lý, phát triển không gian số với những giá trị, sản phẩm văn hóa lành mạnh là yêu cầu cấp thiết đang đặt ra. Trước mắt cần thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về quản lý, phát triển Internet, các trang thông tin điện tử, đảm bảo an ninh mạng, an toàn thông tin, bộ quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số, quy tắc ứng xử trên mạng xã hội, nhất là đối với người nổi tiếng, người hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật, văn nghệ sĩ, trí thức.
Khẩn trương xây dựng và hoàn thiện bộ công cụ quản lý, phát triển mạng xã hội với đội ngũ cán bộ, chuyên gia công nghệ giỏi, có kỹ năng xử lý và giải quyết các vụ việc phức tạp; cảnh báo và bảo vệ dữ liệu cá nhân và người dùng. Xây dựng hệ sinh thái số với những sản phẩm, loại hình dịch vụ đa dạng, phong phú mang đậm sắc thái và truyền thống Việt Nam, tránh sự lấn át, xâm lăng của những sản phẩm văn hóa ngoại lai có nội dung xấu độc, đi ngược lại truyền thống và xâm phạm lợi ích quốc gia, đầu độc tâm hồn con người.
Thứ năm, nâng cao trình độ nhận thức, tay nghề và khả năng làm việc trong môi trường hiện đại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, để phát huy tinh thần làm chủ, không còn cách nào khác là mỗi cá nhân phải không ngừng nỗ lực, cố gắng, trau dồi tri thức, kỹ năng làm chủ công nghệ, khả năng ngoại ngữ để làm việc trong môi trường mới, năng động, hiện đại, phức tạp và nhiều sự đổi thay.
Bên cạnh phát huy phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh, mỗi người Việt Nam hôm nay cần ra sức học tập, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và những đức tính, phẩm chất tốt đẹp, tinh thần kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm với gia đình, xã hội, đất nước của người dân trên thế giới, tự tu dưỡng, hoàn thiện bản thân, đáp ứng tốt yêu cầu, đòi hỏi của thời đại.
3. Kết luận
Sự phát triển của con người là thước đo của sự phát triển, tiến bộ của xã hội và trình độ văn hóa, văn minh của mỗi quốc gia. Con người là hiện thân của nền văn hóa, là hình ảnh, biểu tượng cao đẹp nhất của mỗi quốc gia. Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với những dấu mốc hướng đến 100 năm thành lập Đảng, 100 năm thành lập nước, vấn đề xây dựng, phát triển con người toàn diện cần được đẩy mạnh nhằm khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, sáng tạo, khát vọng phát triển, vươn lên của con người Việt Nam đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh vào kỷ nguyên mới, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tài liệu tham khảo
- Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 13). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- Hoàng Minh. (2026). 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng: Kinh tế Việt Nam vượt mốc 510 tỷ USD. https://www.mof.gov.vn/bo-tai-chinh/nghien-cuu-trao- doi-1.1/40-nam-doi-moi-duoi-su-lanh-dao-cua-dang- kinh-te-viet-nam-vuot-moc-510-ty-usd
- Lê Nga. (2025). Dân số Việt Nam tiếp tục già hóa. https://vnexpress.net/dan-so-viet-nam-tiep-tuc-gia- hoa-4837035.html
Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 04(52)-2026