Tóm tắt: Bài viết khẳng định tư duy xây dựng và thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” có cơ sở vững chắc từ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, đồng thời phù hợp với xu thế quản trị hiện đại lấy người dân làm trung tâm. Trên cơ sở đó, bài viết phản bác các quan điểm sai lệch, xuyên tạc bằng lập luận khoa học và thực tiễn kiểm chứng. Mô hình được xác định với các đặc trưng cốt lõi như minh bạch, hiệu quả, dân chủ, chuyển đổi số và bảo đảm an sinh xã hội. Để hiện thực hóa, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, con người, công nghệ và nguồn lực. Từ cấp cơ sở, mô hình góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước vì Nhân dân, hướng tới phát triển bền vững và toàn diện.
Từ khóa: Xã, phường xã hội chủ nghĩa, kỷ nguyên mới
Socialist communes and wards: the integration of revolutionary theory and modern governance practice
Abstract: This article affirms that the thinking underlying the development and piloting of the “socialist communes and wards” model is firmly grounded in Marxist-Leninist theory, Ho Chi Minh Thought, and the Party’s guidelines, while also being consistent with the contemporary trend of people-centered governance. On that basis, the article refutes erroneous and distorted viewpoints through scientific arguments and evidence verified in practice. The model is characterized by such core features as transparency, efficiency, democracy, digital transformation, and social security. To realize the model, coordinated institutional, human, technological, and resource-related solutions are required. At the grassroots level, the model contributes to realizing the goal of building a State for the People and advancing sustainable and comprehensive development.
Keywords: Socialist communes and wards, new era

Quang cảnh Hội thảo khoa học với chủ đề: “Đề xuất mô hình, tiêu chí xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. (Ảnh: TTXVN. Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị)
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đổi mới hệ thống quản trị quốc gia, yêu cầu nâng cao xã, phường chất lượng quản trị ở cấp cơ sở đang trở thành một đòi hỏi mang tính tất yếu. Xã, phường là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và đồng thời là nơi phản ánh rõ nhất hiệu quả của bộ máy công quyền đối với đời sống Nhân dân. Trước yêu cầu của chuyển đổi số, cải cách hành chính, đô thị hóa và sự vận động ngày càng phức tạp của đời sống xã hội, mô hình quản trị cơ sở truyền thống đang đứng trước nhu cầu phải đổi mới theo hướng hiện đại, hiệu quả nhưng vẫn giữ vững bản chất xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh đó, ý tưởng xây dựng mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” được đặt ra như một định hướng cải cách có tính chất lý luận và thực tiễn sâu sắc. Mô hình này hướng tới việc xây dựng một thiết chế quản trị cơ sở vừa hiện đại về phương thức vận hành, vừa bảo đảm các giá trị cốt lõi của chế độ xã hội chủ nghĩa như lấy Nhân dân làm trung tâm, bảo đảm công bằng xã hội, phát huy dân chủ và phục vụ lợi ích cộng đồng. Đây có thể xem là sự hội tụ giữa lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với các xu hướng quản trị công hiện đại trên thế giới.
Tuy nhiên, hiện nay mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” mới chủ yếu dừng lại ở góc độ định hướng nghiên cứu, đề xuất hoặc mong muốn thí điểm trong thực tiễn, chưa có khuôn mẫu thống nhất cũng như cơ chế triển khai hoàn chỉnh. Chính điều này đã làm xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu, quản lý và xã hội. Một số quan điểm cho rằng đây là bước đi cần thiết nhằm đổi mới quản trị cơ sở, tăng cường hiệu lực phục vụ Nhân dân và tạo nền tảng cho phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, cũng có những ý kiến băn khoăn về tính khả thi, nguy cơ hình thức hóa khẩu hiệu, chồng chéo chức năng quản lý hoặc khó xác định ranh giới giữa yếu tố “xã hội chủ nghĩa” với các tiêu chuẩn quản trị hiện đại vốn mang tính phổ quát.
Bên cạnh đó, thực tiễn quản lý ở nhiều địa phương cho thấy vẫn còn tồn tại những hạn chế như thủ tục hành chính phức tạp, chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở chưa đồng đều, năng lực chuyển đổi số còn hạn chế, cơ chế giám sát và phản biện xã hội chưa phát huy đầy đủ. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu một cách khoa học, khách quan và toàn diện về mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa”, tránh tiếp cận cảm tính hoặc duy ý chí.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để luận giải vấn đề trên, bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu: (1) phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng làm phương pháp luận nền tảng xuyên suốt nghiên cứu. Trên lập trường này, mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” được nhìn nhận như một thực thể luôn vận động và đổi mới trong tiến trình lịch sử, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, giữa định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu thích ứng với thời đại số. Qua đó, nghiên cứu xem đổi mới quản trị cơ sở là yêu cầu tất yếu của sự phát triển xã hội và của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (2) phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu được sử dụng nhằm nghiên cứu các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, hệ thống pháp luật của Nhà nước, các công trình khoa học về quản trị công, dân chủ cơ sở và chuyển đổi số để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Việc phân tích không chỉ dừng ở phương diện kỹ thuật, mà hướng tới làm rõ logic tư tưởng, bản chất chính trị và giá trị nhân văn của mô hình quản trị phục vụ Nhân dân; (3) phương pháp so sánh và đối chiếu được vận dụng để phân tích sự khác biệt giữa mô hình quản lý hành chính truyền thống với xu hướng quản trị hiện đại lấy người dân làm trung tâm; giữa tính phổ quát của quản trị công hiện đại với tính đặc thù của con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Qua đó, nghiên cứu khẳng định hiện đại hóa quản trị không đồng nghĩa với phủ nhận bản sắc chính trị - xã hội của chế độ, mà là quá trình tiếp thu tinh hoa quản trị nhân loại để phục vụ mục tiêu phát triển con người toàn diện; (4) phương pháp dự báo và kiến giải chính sách được sử dụng nhằm nhận diện xu hướng vận động của quản trị cơ sở trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đô thị hóa hiện nay. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất những định hướng xây dựng mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” vừa bảo đảm hiệu quả quản trị, vừa giữ vững bản chất nhân văn, dân chủ và vì con người của chế độ xã hội chủ nghĩa.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Tư duy thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa": sự phù hợp với bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và xu thế thời đại trong kỷ nguyên mới
Trước hết, cần khẳng định một cách có cơ sở khoa học rằng tư duy thí điểm “xã, phường xã hội chủ nghĩa” không phải là một sáng kiến mang tính ngẫu hứng, mà thống nhất về bản chất với học thuyết Mác - Lênin về nhà nước kiểu mới. Hạt nhân của học thuyết này là vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử và trong tổ chức quyền lực nhà nước. C.Mác đã chỉ rõ trong Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen rằng: “Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995a, tr.347); đồng thời nhấn mạnh: “không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995a, tr.350). Tiếp đó, trong Gia đình thần thánh, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Hoạt động lịch sử càng lớn lao thì do đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995b, tr.123). Đây không chỉ là một nhận định về vai trò lịch sử của quần chúng, mà còn là một chỉ dẫn phương pháp luận: mọi cải cách muốn bền vững đều phải bắt nguồn từ và hướng tới quần chúng. Trong bối cảnh đó, việc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước từ cấp cơ sở - nơi trực tiếp gắn với đời sống Nhân dân - chính là con đường hiện thực hóa quyền lực Nhân dân một cách cụ thể và hiệu quả nhất.
Phát triển những tư tưởng đó trong điều kiện mới, V. I.Lênin nhấn mạnh tính tất yếu của việc gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng. Trong Chào mừng những người cộng sản Ý, Pháp và Đức, ông khẳng định: “Không có sự đồng tình, ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được” (V.I.Lênin, 2005a, tr.251); đồng thời cảnh báo: “Một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng” (V.I.Lênin, 2005b, tr.426). Như vậy, xét đến cùng, bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng, trong đó quần chúng không chỉ là đối tượng quản lý mà còn là chủ thể tham gia quản lý.
Từ góc độ này, việc xây dựng “xã, phường xã hội chủ nghĩa” chính là sự cụ thể hóa trực tiếp nguyên lý quyền lực thuộc về Nhân dân, thông qua việc đưa quyền lực ấy vận hành hiệu quả nhất ở cấp gần dân nhất, sát dân nhất. Không có một nhà nước “của dân, do dân, vì dân” nào có thể bền vững nếu nền tảng cơ sở của nó yếu kém hoặc xa rời Nhân dân.
Thứ hai, tư duy thí điểm này thể hiện rõ tính biện chứng và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Việc lựa chọn thí điểm ở cấp xã, phường không phải là bước đi tùy tiện, mà là một thiết kế mang tính thử nghiệm có kiểm soát, nhằm kiểm chứng, điều chỉnh và hoàn thiện mô hình trước khi nhân rộng. Đây chính là cách tiếp cận tránh chủ quan duy ý chí, đồng thời bảo đảm tính khả thi của chủ trương. Hồ Chí Minh đã khái quát sâu sắc nguyên lý này: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.292). Do đó, thí điểm không phải là dấu hiệu của sự thiếu chắc chắn, mà ngược lại, là biểu hiện của tư duy khoa học, tôn trọng thực tiễn và vận dụng sáng tạo lý luận.
Thứ ba, tư duy “xã, phường xã hội chủ nghĩa” là sự kế thừa trực tiếp và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò nền tảng của chính quyền cơ sở. Người đã khẳng định một cách giản dị mà sâu sắc: “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.460). Đây không chỉ là một nhận xét mang tính kinh nghiệm, mà là một luận điểm có giá trị chiến lược. Trong mọi hệ thống quản trị, nếu “tế bào” vận hành tốt thì “cơ thể” mới khỏe mạnh.
Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu về chất lượng phục vụ Nhân dân ngày càng cao, việc nâng cấp năng lực quản trị ở cấp cơ sở không còn là lựa chọn, mà là điều kiện tất yếu để bảo đảm hiệu lực của toàn bộ hệ thống chính trị.
Thứ tư, tư duy này thống nhất chặt chẽ với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong các Văn kiện Đại hội XIII, XIV, đặc biệt là yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Diễn văn bế mạc Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Tinh thần ‘đổi mới’ là yêu cầu mang tính thời đại. Không đổi mới, cải cách thì không thể bứt phá, không thể cạnh tranh, không thể phát triển. Phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng, đổi mới biện pháp tổ chức thực hiện, để đường lối đúng trở thành kết quả cụ thể trong cuộc sống” (Tô Lâm, 2026). Điểm cốt lõi ở đây là: đổi mới không chỉ dừng ở tầm vĩ mô, mà phải thấm sâu vào từng cấp thực thi, nơi trực tiếp chuyển hóa đường lối thành kết quả cụ thể. Vì vậy, nâng cao chất lượng quản trị ở từng xã, phường không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật, mà là khâu then chốt để bảo đảm tính hiện thực của mọi chủ trương lớn.
Thứ năm, trong bối cảnh mới, cách tiếp cận này hoàn toàn phù hợp với xu thế quản trị hiện đại trên thế giới. Nhiều quốc gia đã chuyển từ mô hình quản lý tập trung sang quản trị phân quyền, lấy người dân làm trung tâm và đề cao vai trò của cấp cơ sở. Thực tiễn cho thấy, hiệu quả của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào các quyết sách ở tầm vĩ mô, mà còn phụ thuộc quyết định vào năng lực vận hành của từng đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống. Theo lý thuyết quản trị công hiện đại, hiệu quả quản trị được đánh giá trên ba bình diện: (1) tương quan giữa đầu vào và đầu ra; (2) mức độ hài lòng và niềm tin của xã hội; (3) sự cân đối giữa chi phí và lợi ích xã hội dài hạn (Nguyễn Quốc Sửu, 2026). Đặt trong khung khổ này, “xã, phường xã hội chủ nghĩa” chính là đơn vị tối ưu để hiện thực hóa các tiêu chí hiệu quả, bởi đây là nơi trực tiếp cung ứng dịch vụ công và tiếp nhận phản hồi của người dân.
Từ toàn bộ các cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, có thể khẳng định rằng những luận điệu cho rằng đây là “khẩu hiệu hình thức” hay “ý tưởng viển vông” thực chất là những nhận định phiến diện, thiếu nền tảng khoa học và mang động cơ phủ nhận cải cách. Khi một mô hình vừa có cơ sở lý luận sâu sắc, vừa có phương pháp triển khai khoa học, lại phù hợp với xu thế phát triển, thì việc phủ nhận nó chỉ phản ánh sự thiếu hiểu biết hoặc cố tình xuyên tạc.
Tóm lại, tư duy thí điểm “xã, phường xã hội chủ nghĩa” là sự hội tụ biện chứng giữa lý luận cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và yêu cầu của thời đại. Đây không chỉ là một giải pháp quản trị, mà là con đường cụ thể hóa chủ nghĩa xã hội từ nền tảng cơ sở, nơi mỗi chuyển biến nhỏ tích lũy thành sức mạnh lớn, từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển vì con người, vì Nhân dân và vì tương lai bền vững của đất nước.
3.2. Phản bác các luận điệu xuyên tạc ý tưởng xây dựng và thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa”
Từ những luận cứ lý luận và thực tiễn nêu trên, có thể thấy rằng tư duy thí điểm “xã, phường xã hội chủ nghĩa” không chỉ có cơ sở khoa học vững chắc mà còn phản ánh rõ xu thế phát triển của quản trị hiện đại. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là chính những chủ trương mang tính đổi mới, chạm tới những vấn đề cốt lõi của hệ thống lại thường trở thành đối tượng bị xuyên tạc, bóp méo. Đây không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà là biểu hiện có tính quy luật trong cuộc đấu tranh tư tưởng: bất kỳ sáng kiến nào góp phần củng cố niềm tin, nâng cao hiệu quả quản trị và tăng cường vai trò của Nhân dân đều có thể bị các thế lực thù địch tìm cách phủ nhận. Vấn đề đặt ra không chỉ là nhận diện các luận điệu sai trái, mà quan trọng hơn là vạch rõ bản chất phi khoa học và phi thực tiễn của chúng trên nền tảng lý luận vững chắc. Bởi lẽ, khi một chủ trương đã được đặt trong chỉnh thể của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, thì mọi sự xuyên tạc, dù tinh vi đến đâu, cũng không thể đứng vững trước sức mạnh của lập luận khoa học và thực tiễn sinh động. Chính vì vậy, việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ là yêu cầu mang tính bảo vệ nền tảng tư tưởng, mà còn là quá trình khẳng định tính đúng đắn, tính khoa học và tính tất yếu của con đường đổi mới từ cơ sở. Từ đây, cần đi thẳng vào nhận diện và bác bỏ từng luận điệu xuyên tạc, làm rõ đâu là sự thật, đâu là sự ngụy biện, qua đó củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội trong quá trình hiện thực hóa mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa”.
Trước hết, đối với luận điệu cho rằng “xã, phường xã hội chủ nghĩa chỉ là khẩu hiệu hình thức”, cần bác bỏ trên cả bình diện lý luận và thực tiễn. Đây không phải là một nhận định mang tính học thuật, mà là sự ngụy biện dựa trên việc đơn giản hóa và đánh tráo khái niệm. Bởi lẽ, một khẩu hiệu thuần túy không thể gắn với hệ tiêu chí định lượng cụ thể về mức độ hài lòng của người dân, hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính hay trách nhiệm giải trình của bộ máy công quyền. Khi một mô hình quản trị đã được thiết kế với các chỉ báo đo lường rõ ràng, có khả năng kiểm chứng trong thực tiễn, thì việc quy giản nó thành “khẩu hiệu” thực chất là phủ nhận bản chất khoa học và thực tiễn của quá trình cải cách. Do đó, chính sự phủ nhận này mới là biểu hiện của tư duy phi khoa học, không đứng vững trước những kết quả đang từng bước được lượng hóa trong đời sống xã hội.
Thứ hai, trước quan điểm cho rằng “đây là ý tưởng viển vông, không khả thi”, cần chỉ ra tính thiếu logic nội tại của lập luận này. Trong lịch sử phát triển của khoa học quản trị, không tồn tại một mô hình hoàn chỉnh nào được áp dụng ngay từ đầu mà không trải qua quá trình thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện. Thí điểm không phải là dấu hiệu của sự thiếu chắc chắn, mà ngược lại, là phương thức tiếp cận khoa học nhằm kiểm nghiệm giả thuyết trong điều kiện thực tiễn. Việc lựa chọn triển khai từ cấp xã, phường chính là biểu hiện của tư duy biện chứng, từng bước kiểm chứng hiệu quả trước khi nhân rộng. Vì vậy, phủ nhận tính khả thi của một mô hình đang được kiểm chứng không chỉ là phủ nhận một chủ trương cụ thể, mà còn là phủ nhận nguyên lý thực tiễn - tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý của mọi khoa học quản trị hiện đại.
Thứ ba, đối với luận điệu xuyên tạc rằng “tăng cường vai trò cấp cơ sở sẽ làm suy yếu cấp trên”, cần vạch rõ đây là một sai lầm về logic và nhận thức. Trong quản trị hiện đại, hiệu quả không được tạo ra từ sự tập trung quyền lực cứng nhắc, mà từ sự phân bổ quyền lực hợp lý, gắn thẩm quyền với trách nhiệm và năng lực thực thi. Khi cấp cơ sở được tăng cường năng lực, hệ thống không bị phân tán mà trở nên vận hành thông suốt hơn, qua đó giúp cấp trên tập trung vào chức năng hoạch định chiến lược và kiểm soát vĩ mô. Như vậy, luận điểm này không chỉ sai về lý luận mà còn đi ngược lại xu thế quản trị tiến bộ, nơi phân quyền được coi là điều kiện để nâng cao hiệu quả toàn hệ thống.
Thứ tư, trước quan điểm cho rằng mô hình này mang tính “bình quân, cào bằng”, cần phản bác trên cơ sở làm rõ bản chất của công bằng xã hội chủ nghĩa. “Xã, phường xã hội chủ nghĩa” không nhằm san bằng kết quả phát triển, mà hướng tới bảo đảm công bằng trong tiếp cận cơ hội và dịch vụ công, từ đó tạo điều kiện để mọi cá nhân phát huy năng lực và phát triển. Việc đánh đồng công bằng với cào bằng là một sự diễn giải sai lệch, phản ánh cách nhìn phiến diện, đồng thời cố tình làm méo mó nội hàm nhân văn của mô hình. Công bằng trong xã hội chủ nghĩa là công bằng về cơ hội, về điều kiện phát triển, chứ không phải là sự chia đều cơ học.
Thứ năm, đối với các luận điệu lợi dụng vấn đề này để công kích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng hoặc bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cần nhận diện rõ động cơ và bản chất của chúng. Đây không phải là phản biện mang tính xây dựng, mà là sự phủ nhận có chủ đích đối với những nỗ lực đổi mới và hoàn thiện hệ thống. Thực tiễn đã và đang cho thấy những chuyển biến tích cực trong cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân tại cơ sở. Những kết quả này không chỉ mang tính cảm nhận, mà còn có thể đo lường và kiểm chứng. Do đó, mọi sự phủ nhận mang tính cực đoan đều không thể đứng vững trước thực tiễn - yếu tố có giá trị phán quyết cao nhất trong mọi tranh luận khoa học và chính trị.
Cuối cùng, trước thủ đoạn cắt ghép, bóp méo phát biểu của lãnh đạo, cần nhận diện đây là một phương thức xuyên tạc mang tính kỹ thuật nhưng có chủ ý. Khi một quan điểm bị tách khỏi bối cảnh, hệ thống lý luận và mục tiêu chiến lược của nó, nội dung sẽ bị biến dạng, dẫn đến những cách hiểu sai lệch. Tuy nhiên, chỉ cần đặt vấn đề trở lại trong chỉnh thể đầy đủ, đối chiếu với các văn kiện chính thức và thực tiễn triển khai, bản chất đúng đắn của chủ trương sẽ được làm rõ. Những cách bóp méo như vậy không thể làm thay đổi sự thật, mà chỉ phơi bày ý đồ dẫn dắt dư luận thiếu trung thực và phi khách quan. Tổng thể, các luận điệu xuyên tạc, dù biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, đều có điểm chung là đơn giản hóa vấn đề, bóp méo nội dung và phủ nhận mục tiêu phục vụ Nhân dân. Tuy nhiên, mọi sự xuyên tạc đều có giới hạn, trong khi thực tiễn luôn vận động và tự chứng minh giá trị của nó. Khi một chủ trương vừa có nền tảng lý luận vững chắc, vừa được kiểm chứng trong thực tiễn sống động, thì mọi lời công kích thiếu căn cứ cuối cùng chỉ còn là những lập luận rời rạc, không đủ sức đối trọng với sức nặng của chân lý và thực tiễn.
3.3. Phác thảo một số đặc trưng cốt lõi của mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trong kỷ nguyên mới
Đặc trưng cốt lõi của mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trong kỷ nguyên mới không những không tách rời, mà còn trực tiếp cụ thể hóa mục tiêu xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.70). Đây không phải là sự diễn giải mang tính khẩu hiệu, mà là quá trình đưa mục tiêu chiến lược của chế độ thấm sâu vào đời sống từ cấp cơ sở - nơi mọi giá trị được kiểm chứng bằng thực tiễn phục vụ Nhân dân, bằng chất lượng quản trị và bằng sự hài lòng của người dân. Trên cơ sở những luận cứ lý luận và thực tiễn đã phân tích, tác giả đề xuất tám đặc trưng cốt lõi của mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trong kỷ nguyên mới như những định hướng có tính gợi mở, nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nền quản trị vì Nhân dân ngay từ cấp cơ sở.
Thứ nhất, xã, phường xã hội chủ nghĩa là đơn vị quản trị lấy người dân làm trung tâm, thể hiện trực tiếp bản chất “vì dân” của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Mọi hoạt động của chính quyền cơ sở không thể dừng lại ở việc thực thi chức năng hành chính, mà phải hướng tới mục tiêu cao nhất là phục vụ và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân. Do đó, hiệu quả quản trị không được đo bằng số lượng thủ tục hay mức độ tuân thủ hình thức, mà phải được đánh giá bằng mức độ hài lòng, niềm tin xã hội và những cải thiện thực chất trong đời sống người dân. Đây chính là thước đo bản chất nhất của một nền quản trị tiến bộ.
Thứ hai, đó là mô hình quản trị minh bạch, liêm chính và có trách nhiệm giải trình cao. Trong một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực chỉ thực sự chính danh khi được kiểm soát và đặt dưới sự giám sát của Nhân dân. Vì vậy, chính quyền cấp cơ sở phải công khai đầy đủ các vấn đề liên quan đến ngân sách, quy hoạch, chính sách công; đồng thời thiết lập cơ chế hiệu quả để người dân tham gia giám sát và phản hồi. Trách nhiệm của đội ngũ cán bộ không chỉ dừng ở việc “làm đúng quy trình”, mà còn phải giải trình rõ ràng về kết quả, hiệu quả và tác động xã hội của từng quyết định quản lý.
Thứ ba, xã, phường xã hội chủ nghĩa phải vận hành theo nguyên tắc hiệu lực, hiệu quả và tinh gọn. Điều này đòi hỏi một bộ máy được tổ chức hợp lý, giảm tầng nấc trung gian, tăng tính chủ động và khả năng phản ứng nhanh trước các vấn đề phát sinh. Cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử lý không chỉ nâng cao chất lượng phục vụ mà còn góp phần giảm chi phí xã hội, gia tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Đây là biểu hiện cụ thể của yêu cầu xây dựng một nền hành chính hiện đại, phục vụ.
Thứ tư, xã, phường xã hội chủ nghĩa trở thành không gian thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách thực chất và sống động. Trong mô hình này, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình quản trị - từ đóng góp ý kiến, giám sát đến đồng hành cùng chính quyền giải quyết các vấn đề của cộng đồng. Sự tham gia này không mang tính hình thức, mà phải được thể chế hóa bằng các cơ chế cụ thể, qua đó chuyển hóa quyền làm chủ của Nhân dân từ nguyên tắc thành thực tiễn vận hành hằng ngày.
Thứ năm, xã, phường xã hội chủ nghĩa phải gắn chặt với chuyển đổi số và mô hình quản trị thông minh trong bối cảnh kỷ nguyên mới. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ là công cụ kỹ thuật, mà là phương thức tái cấu trúc toàn bộ quy trình quản trị, từ cung ứng dịch vụ công đến tương tác với người dân. Chính quyền số ở cấp cơ sở giúp nâng cao tính minh bạch, rút ngắn khoảng cách giữa chính quyền và người dân, đồng thời tạo lập một môi trường quản trị hiện đại, thuận tiện và bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công.
Thứ sáu, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển toàn diện con người là mục tiêu xuyên suốt của mô hình. Xã, phường không chỉ là cấp hành chính, mà còn là nơi trực tiếp triển khai và kiểm chứng hiệu quả của các chính sách về giáo dục, y tế, việc làm, giảm nghèo và phúc lợi xã hội. Thành công của một đơn vị cơ sở không chỉ được đo bằng tăng trưởng kinh tế, mà còn ở khả năng bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao chất lượng sống và không để ai bị bỏ lại phía sau.
Thứ bảy, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đủ phẩm chất, năng lực và uy tín là điều kiện mang tính quyết định. Trong mọi mô hình quản trị, con người luôn là yếu tố trung tâm. Cán bộ xã, phường phải thực sự gần dân, hiểu dân, có năng lực chuyên môn và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ. Một chủ trương đúng đắn chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được thực thi bởi những con người xứng đáng; ngược lại, mọi khiếm khuyết trong đội ngũ cán bộ đều có thể làm suy giảm hiệu quả của cả hệ thống.
Thứ tám, xã, phường xã hội chủ nghĩa chính là “tế bào nền tảng” của hệ thống chính trị, nơi tích tụ, phản ánh và lan tỏa các giá trị của chế độ. Khi từng đơn vị cơ sở vận hành hiệu quả, minh bạch và vì dân, toàn bộ hệ thống sẽ được củng cố từ gốc rễ, tạo nên một nền quản trị quốc gia ổn định, thích ứng và phát triển bền vững. Ở bình diện này, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa không chỉ là cải cách hành chính ở cấp cơ sở, mà là chiến lược xây dựng nhà nước từ nền tảng, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa hiệu quả quản trị và giá trị nhân văn của chế độ.
4. Kết luận và khuyến nghị
Có thể khẳng định, xây dựng và thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” không chỉ là một sáng kiến quản trị, mà còn là sự cụ thể hóa bản chất Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân trong điều kiện phát triển mới. Đây là hướng tiếp cận từ cơ sở, lấy người dân làm trung tâm, nhằm chuyển hóa các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội thành những kết quả cụ thể trong đời sống hằng ngày. Thực tiễn cũng cho thấy, dù còn có những quan điểm xuyên tạc hoặc hoài nghi, nhưng một mô hình có cơ sở lý luận vững chắc và được kiểm chứng bằng hiệu quả thực tiễn sẽ tự khẳng định giá trị của mình. Điều quan trọng không nằm ở tranh luận khái niệm, mà ở việc tổ chức thực hiện bài bản, khoa học và thực chất ở cấp cơ sở. Từ mỗi xã, phường được vận hành minh bạch, hiệu quả và vì dân, sẽ từng bước hình thành nền quản trị quốc gia hiện đại, nhân văn và bền vững; qua đó hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một Việt Nam phát triển, công bằng và hạnh phúc. Để hiện thực hóa mục tiêu này, các ngành, các cấp, các địa phương cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế và khuôn khổ pháp lý theo hướng tạo điều kiện cho cấp cơ sở phát huy đầy đủ vai trò và tính chủ động trong quản trị. Trọng tâm là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền. Đồng thời, cần xây dựng các tiêu chí đánh giá thống nhất, minh bạch để đo lường hiệu quả hoạt động của xã, phường trên cơ sở lấy người dân làm trung tâm.
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị ở cấp cơ sở theo hướng hiện đại, phục vụ và hiệu quả. Điều này đòi hỏi tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý, đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức. Việc chuyển từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ” phải trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động của chính quyền cơ sở, qua đó nâng cao chất lượng phục vụ và củng cố niềm tin của Nhân dân.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện ở cấp xã, phường, coi đây là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị. Tập trung xây dựng chính quyền số, số hóa dữ liệu quản lý, phát triển các nền tảng dịch vụ công trực tuyến và tăng cường tương tác hai chiều với người dân. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ nhằm nâng cao hiệu suất xử lý công việc, mà còn góp phần minh bạch hóa hoạt động công quyền và mở rộng khả năng tham gia của người dân vào quá trình quản trị.
Thứ tư, phát huy dân chủ và cơ chế tham gia của người dân một cách thực chất, tránh hình thức. Thiết lập các kênh đối thoại định kỳ, các nền tảng tiếp nhận phản ánh, kiến nghị và cơ chế giám sát xã hội hiệu quả. Đồng thời, cần khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tham gia vào quá trình xây dựng, thực thi và đánh giá chính sách ở cấp cơ sở.
Thứ năm, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, coi đây là khâu đột phá then chốt. Cần hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, gắn với kết quả công việc và mức độ hài lòng của người dân. Đồng thời, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, kiên quyết xử lý các biểu hiện tiêu cực, nhũng nhiễu, qua đó xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới.
Thứ sáu, bảo đảm nguồn lực thực thi phù hợp, bao gồm cả nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật. Đặc biệt, cần ưu tiên đầu tư cho các địa bàn còn khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, bảo đảm mọi xã, phường đều có điều kiện triển khai hiệu quả mô hình. Việc phân bổ nguồn lực phải gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng phục vụ người dân và hiệu quả quản trị, tránh dàn trải và hình thức.
Thứ bảy, tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, đánh giá và nhân rộng mô hình. Quá trình thí điểm phải được theo dõi chặt chẽ, đánh giá khách quan dựa trên các tiêu chí cụ thể, từ đó kịp thời điều chỉnh những bất cập và phát huy các yếu tố tích cực. Việc nhân rộng cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp, bảo đảm tính thích ứng với điều kiện cụ thể của từng địa phương, tránh áp dụng máy móc, đồng loạt.
Thứ tám, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội, đồng thời chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc. Việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về mục tiêu, nội dung và kết quả của mô hình sẽ góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân. Đồng thời, cần kiên quyết vạch rõ bản chất phi khoa học của các luận điệu xuyên tạc, qua đó bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và định hướng đúng đắn cho dư luận xã hội.
Tài liệu tham khảo
- C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995a). Toàn tập (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995b). Toàn tập (Tập 2). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 5). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- Nguyễn Quốc Sửu. (2026). Đổi mới quản trị công ở Việt Nam theo hướng minh bạch, công bằng và hiệu quả trong kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc. vn/2026/01/28/doi-moi-quan-tri-cong-o-viet-nam- theo-huong-minh-bach-cong-bang-va-hieu-qua-trong- ky-nguyen-moi/
- Tô Lâm. (2026). Diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. https://vov.vn/chinh-tri/toan-van- dien-van-be-mac-dai-hoi-xiv-cua-dang-cua-tong-bi- thu-to-lam-post1263733.vov
- V.I.Lênin. (2005a). Toàn tập (Tập 39). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- V.I.Lênin. (2005b). Toàn tập (Tập 44). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 04(52)-2026