Tóm tắt: Khi đề cập vùng đất Nam Bộ, nhất là khu vực Tây Nam Bộ dù khía cạnh nào đều quan tâm đến cộng đồng dân tộc Khmer và cộng đồng dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, quen gọi là Phật giáo Nam tông Khmer. Sau Cách mạng tháng Tám (1945), cộng đồng Phật giáo Nam tông ở Nam Bộ đã có những đóng góp cụ thể đối với đất nước, nhất là vai trò Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chính Phật giáo Nam tông và Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước tạo ra những đặc sắc về dân tộc, tôn giáo và văn hóa của dân tộc Khmer ở Nam Bộ. Bài viết này tập trung làm rõ về dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông và Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước của Phật giáo Nam tông Khmer.
Từ khóa: Nam Bộ, người Khmer, Phật giáo Nam tông
The Khmer Ethnic Community in Southern Vietnam Practicing THeravāda Buddhism
Abstract: Any discussion of Southern Vietnam, particularly the Southwestern region, needs to take into account the Khmer ethnic community and, more specifically, Khmer practicing Theravāda Buddhism, commonly referred to Khmer Theravada Buddhists. Since the August Revolution of 1945, the Khmer Theravāda Buddhist community in Southern Vietnam has made concrete contributions to the country, notably through the role of the Patriotic Monks’ Solidarity Association during the Resistance War against the United States for National Salvation. Khmer Theravāda Buddhism and the Association have contributed to the distinctive ethnic, religious, and cultural characteristics of the Khmer people in Southern Vietnam. This article focuses on the Khmer people’s adherence to Theravāda Buddhism and on the Patriotic Monks’ Solidarity Association within Khmer Theravāda Buddhism.
Keywords: Southern Vietnam, Khmer people, Theravāda Buddhism

1. Đặt vấn đề
Địa bàn cư trú các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ - quen gọi là “Ba Tây”. Nếu như Tây Bắc (gồm Tây Bắc và Việt Bắc xưa) có hơn 30 dân tộc thiểu số tại chỗ của năm nhóm ngôn ngữ; Tây Nguyên và vùng cao duyên hải miền Trung (gọi chung là Tây Nguyên) hơn 20 dân tộc thiểu số tại chỗ của hai nhóm ngôn ngữ, thì ở Tây Nam Bộ chỉ có người Khmer, sau này có thêm cộng đồng người Hoa và một số dân tộc khác.
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào giữa thiên niên kỷ I-TCN, sau đó chia làm hai dòng chính: Nam tông còn gọi là Nam truyền (Ninayana) và Bắc tông còn gọi là Bắc truyền (Mahayana). Phật giáo Bắc tông chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc truyền đến các nước phía Bắc, như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam,... Phật giáo Nam tông chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ truyền xuống các nước phía Nam của châu Á, như: Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào,... Do nhiều yếu tố địa lý, lịch sử, dân tộc,... đại đa số người Khmer ở Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông, đến nay trở thành một cộng đồng đông đảo với những nét đặc trưng riêng về văn hóa và lối sống.
Nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ, cộng đồng người Khmer và Phật giáo Nam tông đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ đề bài viết, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ; Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Minh Ngọc (2005), Tôn giáo và tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long; Nguyễn Văn Sáu (2007), Bước đầu tìm hiểu Phật giáo Nam tông Việt Nam; Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam Bộ - những vấn đề nhìn lại; Trang Thiếu Hùng (2019), Phật giáo Nam tông trong văn hóa Khmer Nam Bộ (trường hợp tỉnh Trà Vinh); Lý Hùng (2019), Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay; Bạch Thanh Sang (2020), Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ,... Bên cạnh các công trình đã công bố, bài viết còn tham khảo các tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ và kế thừa những tư liệu, kinh nghiệm thu thập được từ quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tiễn về cộng đồng người Khmer và Phật giáo Nam tông.
Trên cơ sở các dữ liệu đã công bố và tư liệu thực tế, bài viết sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp nghiên cứu tôn giáo học để làm rõ quá trình người Khmer theo Phật giáo Nam tông - một tôn giáo mang nhiều nét đặc trưng của người Khmer trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam và những đóng góp của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước.
2. Kết quả và thảo luận
2.1. Dân tộc Khmer ở Nam Bộ và Phật giáo Nam tông
Theo cách phân chia địa lý truyền thống, lãnh thổ Việt Nam gồm ba miền: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Riêng Nam Bộ được chia thành hai tiểu vùng là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Người Khmer là dân tộc tại chỗ ở Nam Bộ. Người Khmer có lịch sử lâu đời, là chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo gắn với Vương quốc Phù Nam từ trước Công nguyên. Từ thế kỷ XVII, người Việt mở đất vào Nam Bộ, tiếp sau đó là người Hoa, người Chăm đến định cư. Vùng đất Nam Bộ, bao đời nay các dân tộc Khmer, Việt, Hoa, Chăm đã trải qua 70 quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa lâu dài, cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau trong quá trình khai khẩn đất đai. Tuy mỗi dân tộc cư trú trong những điều kiện sinh thái cụ thể khác nhau, chịu tác động bởi những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau và có những đặc trưng văn hóa, tộc người riêng, nhưng cùng chịu những tác động của điều kiện tự nhiên trên vùng đồng bằng sông nước. Đồng thời, quá trình cộng cư lâu dài và sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa,... đã tạo nên một diện mạo văn hóa vùng miền, vừa có những nét chung hòa đồng, phổ cập của cả cộng đồng các dân tộc nơi đây, vừa mang những sắc thái của từng dân tộc rất đậm đà, riêng khác.
Tổng số người Khmer ở Nam Bộ qua thời gian, năm 1862: 151.367 người, năm 1960: 381.000 người, năm 1965: 600.000 người, năm 1976: 658.000 người, năm 1989: 872.400 người, năm 1999: 1.055.174 người, năm 2009: 1.260.640 người. Theo kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019, cả nước có 1.319.652 người Khmer (Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc, 2019).
Người Khmer sống tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ. Riêng ba tỉnh miền Tây Nam Bộ trước khi sáp nhập năm 2025 là Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, số người Khmer mỗi tỉnh chỉ trên dưới một nghìn người. Ngoài ra một số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ như Bình Dương, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh,... mỗi địa phương có đến trên dưới 10 nghìn người. Số lượng người Khmer đứng thứ tư trong các dân tộc ở Việt Nam (Trang Thiếu Hùng, 2019).
Phật giáo Nam tông còn gọi là Phật giáo Nguyên thủy hay Theravãda, dòng truyền thừa trực tiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni mang đậm dấu ấn văn hóa Ấn Độ. Nếu như Phật giáo Bắc tông - dòng cải cách truyền đến Trung Quốc sau đó mở ra các nước phía Bắc, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam,... thì Phật giáo Nam tông truyền từ Ấn Độ đến các nước phương Nam, như Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào,...
Qua hiện vật khảo cổ và truyền thuyết, Phật giáo truyền vào Phù Nam từ khá sớm khoảng thế kỷ VI cùng với việc truyền vào vùng đất Chân Lạp. Thời kỳ đầu, Phật giáo truyền vào Chân Lạp và Phù Nam từ cả hai dòng Bắc tông và Nam tông, cùng tồn tại với đạo Bàlamôn (sau này gọi là Ấn Độ giáo hay đạo Hinđu). Ở một số di chỉ khảo cổ liên quan đến văn hóa Óc Eo bên cạnh những hiện vật của đạo Bàlamôn có cả hiện vật Phật giáo, nhất là Phật giáo Bắc tông. Điển hình tượng Phật bằng đồng, tượng Phật bằng đá, tượng Phật Quan Âm Bồ Tát bằng đồng ở sườn Gò Cây Thị (An Giang), tượng Phật bằng gỗ ở Giồng Xoài (Kiên Giang),... Cũng như ở Chân Lạp, vì nhiều lý do, cuối cùng Phật giáo Bắc tông ở Phù Nam nhường chỗ cho Phật giáo Nam tông. Điều cần quan tâm, sau khi Vương quốc Phù Nam suy vong, người Phù Nam lưu tán nên cả Phật giáo và đạo Bàlamôn đều suy giảm. Đến thời kỳ một bộ phận người Khmer từ Campuchia sang định cư thì Phật giáo Nam tông mới phát triển nhanh và rộng rãi. Đầu thế kỷ XVII hầu hết những nơi người Khmer sinh sống đều theo Phật giáo Nam tông, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở các phum sóc của người Khmer đều có ngôi chùa của Phật giáo Nam tông (Nguyễn Thanh Xuân, Nguyễn Quỳnh Trâm, 2024, tr. 360).
Số liệu về Phật giáo Nam tông Khmer ở miền Tây Nam Bộ ở thời điểm năm 2020 là 1.155.294 tín đồ chiếm đến hơn 95% tổng số người Khmer, 7.855 sư, 445 chùa và 44 salatel. Cụ thể: Sóc Trăng 396.999 tín đồ, 1.749 sư, 92 chùa và 38 salatel; Trà Vinh 304.845 tín đồ, 3.255 sư, 143 chùa; Kiên Giang 210.899 tín đồ, 1.010 sư, 75 chùa; An Giang 62.903 tín đồ, 1.100 sư, 66 chùa; Bạc Liêu 68.129 tín đồ, 292 sư, 22 chùa và 06 salatel; Hậu Giang 26.257 tín đồ, 70 sư, 15 chùa; Cà Mau 40.000 tín đồ, 32 sư, 07 chùa; Vĩnh Long 22.771 tín đồ, 219 sư, 13 chùa; Cần Thơ 22.294 tín đồ, 128 sư, 12 chùa (Bạch Thanh Sang, 2020).
Ngoài ra, cộng đồng người Khmer ở miền Đông Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông (ở thời điểm năm 2012) là: 71.684 tín đồ, 200 sư, 15 chùa. Cụ thể: Thành phố Hồ Chí Minh: 24.268 tín đồ, 55 sư, 02 chùa; Bình Phước: 15.557 tín đồ, 107 sư, 05 chùa; Bình Dương: 14.435 tín đồ, 04 sư, 01 chùa; Tây Ninh: 7.578 tín đồ, 22 sư, 05 chùa; Đồng Nai: 7.059 tín đồ, 06 sư, 01 chùa; Bà Rịa - Vũng Tàu: 2.787 tín đồ, 06 sư, 01 chùa (Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2012, tr.17).
Đối với người Khmer, Phật giáo Nam tông là tôn giáo của dân tộc Khmer, là thể hiện nét đặc sắc về văn hóa và là sự khác biệt giữa dân tộc Khmer với các dân tộc khác ở Việt Nam. Sự khác biệt này là ở các yếu tố liên quan đến chức sắc - nhà tu hành - quen gọi là sư thầy hay tăng sĩ, cơ sở thờ tự - chùa tháp và các lễ hội truyền thống.
Phật giáo Nam tông nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng chỉ có nam giới mới xuất gia tu hành. Việc xuất gia vào chùa tu hành của người Khmer theo Phật giáo Nam tông được coi là nghĩa vụ, là vinh dự. Đi tu hành là để trả hiếu cho cha mẹ, đi tu là để học tập, để tích đức, rèn luyện nhân cách,... Người xuất gia tu hành chia thành hai trường hợp: tu theo nghĩa vụ trong một thời gian nhất định và tu trọn đời. Sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer là bậc trí thức, có trình độ học vấn, là lực lượng ưu tú của dân tộc và xã hội Khmer truyền thống, nên có ảnh hưởng rất lớn đối với tín đồ. Sư sãi được xem là người đại diện cho Đức Phật, thay lời Đức Phật để truyền dạy và giáo hóa chúng sinh. Sư sãi giữ vai trò trung gian, là gạch nối giữa tín đồ với đấng tôn thờ - Đức Phật. Sư sãi là người thầy trong đời sống tâm linh của tín đồ; là người chăm lo, hướng dẫn tín đồ trong các sinh hoạt tôn giáo. Sư sãi còn ảnh hưởng đối với mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội; là người có học vấn, cả về Phật học và thế học, là người hiểu biết xã hội, đại diện ưu tú nhất nên sư sãi có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của tín đồ, được tín đồ sùng kính. Sư sãi không trực tiếp tham gia sản xuất và quản lý xã hội, nhưng tiếng nói và ý kiến của họ có ý nghĩa quan trọng đối với sinh hoạt của cộng đồng. Mọi tín đồ đều nghe và làm theo sự hướng dẫn của các sư sãi. Sư sãi là những trí thức nên họ nắm toàn bộ những tinh hoa tri thức đã tích lũy từ bao đời của dân tộc Khmer, từ ngôn ngữ đến nghệ thuật, từ kinh nghiệm cuộc sống đến kinh nghiệm sản xuất,... (Lý Hùng, 2020).
Như vậy, sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer không chỉ là người hướng dẫn cách sinh hoạt tôn giáo, mà còn là người giáo dục đạo đức, lối sống; là người duy trì, gìn giữ ngôn ngữ, chữ viết riêng của người Khmer. Không những thế, sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer còn là người hướng dẫn nghề, kỹ thuật sản xuất, xây dựng vốn sống, nâng cao trình độ về mọi mặt cho cộng đồng,... Chính sự ảnh hưởng của sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer đến mọi mặt đời sống của người Khmer tạo nên nét riêng biệt của cộng đồng người Khmer ở Việt Nam theo Phật giáo Nam tông.
Đối với Phật giáo Nam tông Khmer, ngôi chùa là trung tâm của sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng. Người Khmer từ nhỏ đã là tín đồ, được gia đình cho đến chùa dự các lễ của tôn giáo và dân tộc. Dù không làm lễ nhập môn (tương tự như Lễ Quy y Tam bảo của Phật giáo Bắc tông) nhưng đối với người Khmer ở Nam Bộ khi sinh ra đã mặc nhiên là tín đồ Phật giáo. Các ngày lễ trong tháng, mọi người đều đến chùa niệm Phật, tụng Kinh. Ngôi chùa được coi là “từ đường” không phải của một dòng họ mà là từ đường của cả phum sóc. Theo phong tục của người Khmer ở Nam Bộ, những người chết được hỏa táng; tro cốt được thân nhân gửi lại tại chùa hoặc đem về thờ, cúng tại gia đình một thời gian nhất định và sau đó đem gửi vào chùa. Những ngày tuần tiết, sóc vọng người thân, người Khmer đến chùa dâng hương lễ Phật cũng là để tưởng nhớ tới ông bà tổ tiên - những người đã thoát kiếp luân hồi về cõi cực lạc. Chính vì vậy, đối với người Khmer nhớ về ông bà tổ tiên là hướng về chùa và có nghĩa vụ chăm sóc cho chùa. Ngôi chùa là trường học cho con em người Khmer; vào chùa để học chữ, học làm người. Ngôi chùa là trung tâm văn hóa cộng đồng của người Khmer vì mọi lễ hội Phật giáo, lễ hội dân tộc đều diễn ra ở chùa, do nhà sư chủ trì hướng dẫn. Ngôi chùa là thư viện, lưu giữ kinh sách, văn hóa phẩm dân tộc và tôn giáo nên trở thành trung tâm học tập cộng đồng, nơi hằng ngày người dân có nhu cầu đến đọc, xem, tìm hiểu. Ngôi chùa là bảo tàng lưu giữ các hiện vật từ đồ thờ tế tự, các hiện vật điêu khắc, chạm trổ, đến những hiện vật lớn. Ngôi chùa còn là nơi đào tạo nghề, kỹ năng lao động, là cơ sở kinh tế, cơ sở từ thiện, xã hội giúp đỡ những người không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi,... (Trần Quang Thuận, 2008).
Như vậy, đối với người Khmer theo Phật giáo Nam tông, ngôi chùa là nơi thiêng liêng, nơi thờ Phật, nơi gửi gắm niềm tin qua những việc làm hiện tại và mong ước, hy vọng được giải thoát đạt đến cõi Niết bàn trong tương lai. Ngôi chùa gắn bó với người Khmer theo Phật giáo Nam tông trong suốt cuộc đời, từ lúc sinh ra đến khi chết đều được tổ chức các nghi lễ (nghi lễ vòng đời) theo truyền thống. Bởi thế, người Khmer luôn quan tâm tới chùa, coi chùa là niềm tự hào của mỗi cá nhân và gia đình. Hằng năm, người Khmer theo Phật giáo Nam tông tổ chức nhiều lễ gắn với Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống. Dù lễ Phật giáo chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng hay tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Phật giáo đều được thực hiện ở các chùa theo chương trình cụ thể. Lễ Mahghapuja kỷ niệm ngày Phật Thích Ca tuyên hứa và khẳng định trước ba tháng sẽ nhập Niết bàn (rằm tháng Giêng âm lịch, khoảng đầu tháng 2 dương lịch); Lễ Chôl Chnăm Thmây là Lễ vào năm mới (giữa tháng 4 dương lịch); Lễ Visakhapuja còn gọi là “Lễ Tam hợp - Vesak”, gồm lễ Phật đản, lễ Phật thành đạo, lễ Phật nhập Niết bàn (rằm tháng 4 âm lịch, khoảng đầu tháng 5 dương lịch); Lễ Chôl Vo Sa là lễ nhập hạ của sư sãi (rằm tháng 6 âm lịch, khoảng đầu tháng 7 dương lịch); Lễ Phchum Ben (còn gọi là Lễ Đôn ta) là lễ báo hiếu ông bà, xóa tội vong nhân - tương tự như lễ Vu lan của Phật giáo Bắc tông (giữa tháng 9 dương lịch); lễ Chanh Vosa là lễ mãn Hạ (đầu tháng 10 dương lịch); Lễ Ok Om Bok (còn gọi là lễ Đút cốm dẹp) là lễ Cúng trăng (cuối tháng 10 dương lịch); Lễ Kathina là lễ Dâng y - không định rõ ngày từ đầu tháng 10 đến giữa tháng 11 dương lịch (Nguyễn Mạnh Cường, 2008, tr.243). Ngoài các lễ hội truyền thống gắn với Phật giáo, người Khmer ở Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông còn thờ các vị thần như: Ông Tà (Neak Ta) thần của tạo vật, Thần nước (Neak Ta Tuc), Thần núi (Neak Ta Phnom), Thần rừng (Neak Ta Prey), Thần ruộng (Neak Ta Sre), Thần Vishnu (Neak Ta Noreay), Thần Brahman (Neak Ta Proum),... là những vị thần chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo (Trần Quang Thuận, 2008, tr.272). Lễ hội Phật giáo cũng như nếp sống Phật giáo Nam tông của người Khmer ở Nam Bộ vừa gắn với sự tích của Phật giáo, vừa gắn với tín ngưỡng truyền thống của người Khmer đều nhằm giáo dục con người hướng thiện, giữ đạo lý trong quan hệ gia đình, cộng đồng và xã hội, trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Và như vậy, các lễ hội của Phật giáo Nam tông vừa bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vừa góp phần làm phong phú đời sống tinh thần cho cộng đồng người Khmer ở Việt Nam.
2.2. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước của Phật giáo Nam tông Khmer
Phật giáo Nam tông của người Khmer ở Nam Bộ là một cộng đồng có quá trình gắn bó với cách mạng, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời (1960), Khu ủy Khu Tây Nam Bộ chủ trương thành lập tổ chức yêu nước trong giới sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer trên cơ sở kế thừa tổ chức Ban Sãi vận trong kháng chiến chống Pháp. Ngày 20/3/1963, Hội Sư sãi yêu nước khu Tây Nam Bộ (sau này là Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ) được thành lập. Hòa thượng Thạch Som (sau này là Phó Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam) giữ cương vị Hội trưởng, Đại đức Sơn Vọng là Chủ tịch danh dự. Hội hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Ban Khmer vận khu Tây Nam Bộ. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ có ba cấp (khu, tỉnh, huyện), là tổ chức chính trị - xã hội đặc thù trong giới sư sãi Khmer, là thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam; hoạt động như tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị. Trên cơ sở xác định: “Muốn cứu đạo phải cứu nước. Không có độc lập dân tộc, không đánh thắng được đế quốc Mỹ xâm lược thì đạo pháp chân chính không thể tồn tại và phát triển được” (Ban Dân vận Trung ương - Cơ quan Thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr.2), nội dung và phương thức hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước là tuyên truyền, vận động sư sãi, phật tử Khmer ủng hộ, tham gia phong trào cách mạng.
Sau khi Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ ra đời, các tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Cửu Long lần lượt thành lập Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước cấp tỉnh. Cụ thể: Sóc Trăng (1963), Trà Vinh (1965), Cà Mau (1966), Kiên Giang (1968),... (Bạch Thanh Sang, 2020, tr.47). Ngay từ những ngày đầu thành lập và trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ đã phát huy được vai trò của mình, có những đóng góp quan trọng, đã vận động, tập hợp được đông đảo đồng bào, sư sãi Khmer đoàn kết đấu tranh chống Mỹ, ủng hộ cách mạng, tham gia nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực để phản đối chiến tranh, đòi hòa bình, góp phần cùng toàn dân giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhiều cơ sở thờ tự Phật giáo Nam tông Khmer ở vùng Tây Nam Bộ đã trở thành cơ sở cách mạng, nuôi và bảo vệ cán bộ cách mạng như: chùa Ô Mịch, chùa Mé Láng, chùa Căn Nom, Prokhúp (Trà Vinh); chùa Rạch Cui (Cà Mau),... Nhiều sư sãi và Phật tử Khmer đã tham gia trong hàng ngũ kháng chiến, là những chiến sĩ cách mạng, tích cực vận động sư sãi và Phật tử tham gia đấu tranh chính trị như: Hòa thượng Hữu Nhem, Hòa thượng Tăng Nê, Hòa thượng Thạch Som, Hòa thượng Sơn Vọng, Sư cả Thạch Phát, Hòa thượng Kim Nhiêu Kem, Thượng tọa Kim Túc Chơn, Hòa thượng Kim Chao, Hòa thượng Trần Dạnh, Hòa thượng Lâm Co, Hòa thượng Thạch Út,... Nhiều sư sãi đã theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc “cởi áo cà sa, khoác chiến bào” đã lên đường bảo vệ Tổ quốc và đã hy sinh để đấu tranh giành độc lập cho dân tộc như: liệt sĩ Dương Sóc, liệt sĩ Kim Sum, liệt sĩ Kim Nang,...
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người Khmer ở vùng Tây Nam Bộ có 92 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 11 anh hùng lực lượng vũ trang, 2.863 liệt sĩ, 1.029 thương binh, hàng chục nghìn gia đình có công với nước, 139 chùa Phật giáo Nam tông có công với cách mạng. Các vị cao tăng của Phật giáo Nam tông Khmer được tặng thưởng danh hiệu cao quý như: Hòa thượng Danh Nhưỡng được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng ba, Huân chương Độc lập hạng nhất, Hòa thượng Ngô Văn Ẩm được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Hòa thượng Danh Thọ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến,... Riêng Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước khu Tây Nam Bộ đã được Trung ương Cục miền Nam tặng hai Huân chương Giải phóng vì đã có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (Nguyễn Thanh Xuân, Nguyễn Quỳnh Trâm, 2024, tr.388). Sự ra đời và phát triển của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước cấp khu và các tỉnh vùng Tây Nam Bộ chứng tỏ rằng Phật giáo Nam tông Khmer luôn sát cánh cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam đóng góp sức người, sức của đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cho đến ngày toàn thắng.
Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, giới Phật giáo Việt Nam được sự trợ duyên của Nhà nước đã thống nhất các tổ chức, hệ phái trong cả nước trong tổ chức chung. Năm 1980, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ đại diện cho Phật giáo Nam tông Khmer là một trong các tổ chức Phật giáo trong Ban Vận động tiến tới thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981. Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, tất cả các tổ chức, hệ phái không duy trì bộ máy tổ chức riêng mà nhập chung, chịu sự điều hành của Giáo hội mới theo cơ chế nhất nguyên, chỉ giữ lại màu sắc và phương thức tu hành của các sơn môn.
Theo cơ chế nhất nguyên của Phật giáo Việt Nam với số đông là Phật giáo Bắc tông nên một số hoạt động mang tính biệt truyền gắn với giới luật cần được duy trì riêng đối với Phật giáo Nam tông Khmer, điển hình là chuẩn bị và tổ chức cho việc xuất gia tu hành diễn ra thường xuyên, việc thụ giới và phong phẩm đối với sư sãi,... Giáo hội Phật giáo Việt Nam vẫn chưa đáp ứng. Do vậy, sau khi Trung ương có Chỉ thị 68-CT/TW về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme (1991), đa số địa phương có Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam Bộ (trừ tỉnh An Giang) củng cố lại và thành lập mới tổ chức Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước trong phạm vi tỉnh. Ngoài mục tiêu góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước còn hỗ trợ các hoạt động tôn giáo mang tính truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer. Trước tháng 7/2025, ở Nam Bộ có tám tỉnh duy trì Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước là: Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước các tỉnh đều có Điều lệ hoặc Quy chế hoạt động, xây dựng cơ chế tổ chức phù hợp với hai cấp (Ban Tôn giáo Chính phủ, 2020). Riêng Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Trà Vinh trước năm 2025, bên cạnh Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vẫn duy trì tổ chức Hội đồng kỷ luật ở ba cấp: cấp tỉnh là Hội đồng kỷ luật sư sãi Salakon do Mekon tỉnh đứng đầu (có 11 thành viên); cấp huyện là Upachchea do Anuskon đứng đầu (có từ 07 đến 09 thành viên); và cấp xã do Sư cả chùa đứng đầu. Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh và vận hành chính quyền địa phương hai cấp ngày 01/7/2025, theo hướng dẫn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước của Phật giáo Nam tông đang có sự điều chỉnh cho phù hợp.
3. Kết luận
Nét đặc trưng tiêu biểu của người Khmer ở Nam Bộ là theo Phật giáo Nam tông - một dòng truyền thừa trực tiếp từ Phật Thích Ca Mâu Ni mang đậm dấu ấn văn hóa Ấn Độ, được thể hiện qua việc tu hành, vai trò của sư sãi và những hoạt động mang tính tổ chức đặc thù. Đặc biệt là vị trí của ngôi chùa - chùa tháp với kiến trúc độc đáo có vai trò rất quan trọng đối với từng cộng đồng tín đồ. Gắn với ngôi chùa và các sư sãi là các lễ hội quan trọng diễn ra hằng năm thu hút đông đảo người tham gia. Trong tiến trình vận động của lịch sử Việt Nam, Phật giáo Nam tông Khmer đã tham gia và đóng góp tích cực đối với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đặc biệt, trong kháng chiến chống Mỹ, Phật giáo Nam tông Khmer đã hình thành một tổ chức tôn giáo, xã hội là Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước. Sau này, khi môi trường xã hội và tôn giáo có những thay đổi quan trọng nhưng Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vẫn phát huy một cách phù hợp trên cả hai phương diện xã hội và tôn giáo.
Tài liệu tham khảo
- Bạch Thanh Sang. (2020). Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ. Luận án tiến sĩ Tôn giáo học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Ban Dân vận Trung ương - Cơ quan Thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. (2014). Tài liệu Tọa đàm Tổ chức và hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer - Thực trạng và giải pháp.
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam. (2012). Tài liệu Hội nghị chuyên đề Phật giáo Nam tông lần thứ V. Văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Lý Hùng. (2020). Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay. Luận án tiến sĩ Tôn giáo học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Thanh Xuân, Nguyễn Quỳnh Trâm. (2024). Tôn giáo vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Nhà xuất bản Tôn giáo.
- Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc. (2020). Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Nhà xuất bản Thống kê.
- Trần Quang Thuận. (2008). Phật giáo Nam tông tại Đông Nam Á. Nhà xuất bản Tôn giáo.
- Trang Thiếu Hùng. (2019). Phật giáo Nam tông trong văn hóa Khmer Nam Bộ: Trường hợp tỉnh Trà Vinh. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 04(52)-2026