TS. ĐẶNG VIẾT ĐẠT
Học viện Chính trị khu vực IV
Email: vietdatdanghv4@gmail.com

Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp tại thành phố Cần Thơ. Trên cơ sở lý thuyết hiệu quả thể chế và quản lý công mới, nhận thức được xem xét thông qua ba cấu phần: hiểu biết, niềm tin và thái độ. Dữ liệu khảo sát từ 525 cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ cho thấy phần lớn người được khảo sát có nhận thức tốt về cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận chưa nhận thức đầy đủ về cơ chế vận hành này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiểu biết thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; củng cố niềm tin bằng việc nâng cao hiệu quả thể chế và thúc đẩy thái độ tích cực gắn với việc tăng cường trách nhiệm trong thực thi công vụ.

Từ khóa: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, cán bộ, công chức cấp xã, nhận thức, thành phố Cần Thơ

The Awareness of Commune-Level Cadres and Civil Servants in Can THo City Regarding the Mechanism of “Party leadership, State management and People’s mastery”

Abstract: This study analyzes the perceptions of commune-level cadres and civil servants regarding the mechanism of “Party leadership, State management, and People’s mastery” in the context of administrative unit mergers and the organization of a two-tier local government model in Can Tho City. Drawing on the theoretical frameworks of institutional effectiveness and New Public Management, awareness is examined through three components: cognition, beliefs, and attitudes. Survey data collected from 525 commune-level cadres and civil servants in Can Tho City indicate that the majority of respondents hold positive perceptions of the operating mechanism of Vietnam’s political system; however, a certain proportion still lack a full understanding of this mechanism. On that basis, the paper proposes several recommendations to enhance cognition through training and capacity-building activities; strengthen beliefs by improving institutional effectiveness; and foster positive attitudes associated with greater responsibility in the performance of public duties.

Keywords: Party leadership, State management, People’s mastery, commune-level cadres and civil servants, awareness, Can Tho City

Quang cảnh buổi làm việc tại Trung tâm phục vụ hành chính công thành phố Cần Thơ. (Nguồn: Báo Lao động)

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, cán bộ, công chức cấp xã phải giải quyết ngày càng nhiều vấn đề chính sách phát triển mang tính phức hợp, vì thế việc nhận thức đúng và vận dụng hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trở thành điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị công. Các nghiên cứu cho thấy, nhân viên nhà nước (cán bộ, công chức) không đơn thuần thực hiện chính sách theo quy định mà trước hết phải diễn giải, tìm kiếm ý nghĩa và đánh giá giá trị xã hội của chính sách đó (Don S. Lee, 2023). Nhận thức của cán bộ, công chức về tính hợp lý, tính chính đáng và lợi ích xã hội của chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến động lực, mức độ cam kết cũng như hiệu quả thực thi chính sách. Bên cạnh đó, niềm tin chính trị được xem là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm tính ổn định và hiệu quả của hệ thống. Cho nên, giữa niềm tin chính trị và mức độ hợp tác của công dân có mối quan hệ thuận chiều (Carstens, J., 2023). Đối với cán bộ, công chức, niềm tin vào cơ chế vận hành của hệ thống chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi đây là lực lượng trực tiếp tham gia tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nếu niềm tin chính trị thấp có thể làm suy yếu sự ổn định của thể chế dân chủ (Proszowska, D., Jansen, G., & Denters, B, 2022), ngược lại, thái độ chính trị tích cực không chỉ thúc đẩy sự đồng thuận mà còn góp phần nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân và hiệu quả quản trị nhà nước. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy đây là một cấu trúc đa chiều được hình thành dưới tác động đồng thời của các yếu tố cá nhân, môi trường thể chế và bối cảnh quản trị, trong đó: môi trường thể chế có khả năng tạo ra hoặc hạn chế cơ hội tiếp cận thông tin chính trị, từ đó ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết chính trị của các chủ thể trong xã hội (Sofia Vidotto và các cộng sự, 2024); mức độ hiểu biết hạn chế của công dân về thể chế chính trị và sự vận hành phụ thuộc vào các câu hỏi được đặt ra cho họ. Mức độ hiểu biết dường như cao hơn khi người ta được hỏi các câu hỏi đóng hơn là câu hỏi mở (John G. Bullock và Kelly Rader, 2020).

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về nhận thức chính trị, nhưng phần lớn các nghiên cứu hiện có tập trung vào nhận thức chính trị của công dân hoặc công chức trong bối cảnh các nền dân chủ phương Tây. Các nghiên cứu về nhận thức chính trị của cán bộ, công chức trong điều kiện đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam còn tương đối hạn chế. Đặc biệt, vẫn còn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu về nhận thức của cán bộ, công chức đối với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Vì thế, bài viết tập trung phân 76 tích nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.

2. Khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Nhận thức của cán bộ, công chức về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”: khái niệm và thang đo

Thứ nhất, khái niệm nhận thức của cán bộ, công chức về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”

Cho đến nay nhận thức vẫn là một khái niệm đa diện được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong triết học, nhận thức được tiếp cận chủ yếu như một quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong tư duy của con người. Theo cách tiếp cận này, trọng tâm của nhận thức không nằm ở những gì con người đã biết mà nằm ở cách thức con người tạo ra tri thức thông qua hoạt động thực tiễn: “Nhận thức như là một quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo thế giới khách quan bởi con người... Sự phản ánh đó không phải là một hành động nhất thời, máy móc, giản đơn và thụ động mà là quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực và sáng tạo” (Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005). Như vậy, nhận thức được hiểu là một hoạt động diễn ra liên tục và gắn chặt với thực tiễn xã hội. Điểm cốt lõi của cách tiếp cận này là nhấn mạnh tính chủ động, sáng tạo của chủ thể nhận thức trong quá trình khám phá và cải biến thế giới.

Trong tâm lý học, nhận thức được hiểu là hệ thống tri thức, kinh nghiệm, quan điểm mà con người đạt được thông qua quá trình tiếp xúc với thế giới khách quan. Trọng tâm của nhận thức không còn là quá trình phản ánh hiện thực mà là những gì đã được hình thành trong tư duy của cá nhân sau quá trình học tập, trải nghiệm và tích lũy thông tin. Vì vậy, nhận thức thường được biểu hiện thông qua mức độ hiểu biết, niềm tin, thái độ, quan điểm hoặc sự đánh giá của con người đối với một đối tượng cụ thể.

Trong khi đó, xã hội học lại nhấn mạnh nguồn gốc xã hội của nhận thức. Đó là sản phẩm của quá trình xã hội hóa, nơi tri thức được kiến tạo và hợp thức hóa thông qua các tương tác xã hội và hệ thống thể chế.Nhận thức là cấu trúc tâm lý hình thành sau quá trình xử lý thông tin, bao gồm hiểu biết, thái độ, niềm tin, định kiến, hoặc chuẩn mực hành vi. Theo đó, con người không chỉ tiếp nhận thế giới mà còn đồng kiến tạo thực tại thông qua ngôn ngữ, văn hóa và cấu trúc quyền lực. Vì thế, nhận thức là sản phẩm đầu ra của hoạt động tư duy, giao tiếp xã hội, quá trình tiếp nhận, xử lý và tái cấu trúc thông tin về thế giới khách quan, thông qua sự tương tác giữa cá nhân và môi trường văn hóa, xã hội. Nó được dẫn dắt bởi trải nghiệm, cảm xúc, tư duy logic và hệ thống giá trị, nhằm hình thành tri thức, điều chỉnh hành vi và định hướng hành động (Fritjof Capra, 2017).

Trong chính trị học, khái niệm nhận thức thường không chỉ hiểu đơn thuần là mức độ hiểu biết hay lượng thông tin mà cá nhân nắm giữ về các vấn đề chính trị. Thay vào đó, nhận thức chính trị được xem là một cấu trúc tâm lý đa chiều phản ánh cách cá nhân hiểu, đánh giá và định hướng hành vi đối với hệ thống chính trị. Theo hướng tiếp cận này, nhận thức chính trị thường được cấu thành bởi ba thành tố: kiến thức chính trị, niềm tin chính trị và thái độ chính trị (Carstens, J., 2023). Trong đó, kiến thức chính trị phản ánh mức độ hiểu biết của cá nhân về các sự kiện, thiết chế, chủ thể và quá trình chính trị. Thành tố này cho biết cá nhân biết gì và hiểu đến đâu về hệ thống chính trị mà họ đang tham gia. Bên cạnh kiến thức và niềm tin, thái độ chính trị là thành tố phản ánh sự đánh giá, đồng tình hay phản đối của cá nhân đối với các giá trị, chủ trương, chính sách và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị. Thái độ chính trị thể hiện khuynh hướng tâm lý và mức độ sẵn sàng ủng hộ hoặc tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội.

Kế thừa các cách tiếp cận trên, nghiên cứu này không xem nhận thức của cán bộ, công chức về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ” đơn thuần là tri thức mà họ đang sở hữu, cũng không chỉ là quá trình tư duy hay sự tác động của môi trường xã hội, mà là sự kết hợp của cả ba phương diện, đó là tổng thể những hiểu biết, niềm tin và thái độ của họ đối với vị trí, vai trò, chức năng, nguyên tắc vận hành và mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trên cơ sở này, nghiên cứu xây dựng thang đo nhận thức của cán bộ, công chức theo cách tiếp cận đa chiều, gồm ba thành tố cơ bản:

Một là, hiểu biết: phản ánh mức độ nắm vững kiến thức của cán bộ, công chức về vị trí, vai trò, chức năng của Đảng, Nhà nước, Nhân dân và sự vận hành trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”. Thành tố này được đo lường thông qua hai chiều cạnh cơ bản: (1) hiểu biết về vị trí, vai trò của từng chủ thể; (2) hiểu biết về cơ chế vận hành như: nhận biết được phương thức Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay hoặc bao biện công việc của Nhà nước; hiểu rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính với cấp ủy Đảng cùng cấp; và nắm vững các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân.

Hai là, niềm tin: phản ánh mức độ tin tưởng của cán bộ, công chức vào tính chính đáng, năng lực và hiệu quả vận hành của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”. Thành tố này được đo lường thông qua bốn nhóm chỉ báo: (1) niềm tin vào năng lực của các chủ thể trong hệ thống chính trị; (2) niềm tin vào hiệu quả lãnh đạo của Đảng; (3) niềm tin vào hiệu quả quản lý của Nhà nước; và (4) niềm tin vào tính phù hợp, hiệu quả và lợi ích của cơ chế.

Ba là, thái độ: phản ánh sự đồng thuận, trách nhiệm và mức độ sẵn sàng hành động của cán bộ, công chức trong việc thực hiện công vụ. Thành tố này gồm ba nhóm chỉ báo: (1) mức độ ủng hộ nguyên tắc vận hành của hệ thống chính trị; (2) tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ theo đúng nguyên tắc của cơ chế; và (3) sự sẵn sàng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế trong thực tiễn.

Thứ hai, thang đo nhận thức của cán bộ, công chức về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”

Thang đo và độ tin cậy của các biến quan sát được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Yêu cầu để thang đo được chấp nhận là loại bỏ các biến có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item - Total Correlation) nhỏ hơn 0,3 và hệ số độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha của thang đo nhỏ hơn hoặc bằng 0,6 (Bảng 1).

Bảng 1: Tổng hợp kết quả phân tích chất lượng thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra xã hội học của tác giả (2026)

Kết quả kiểm định thang đo tại Bảng 1 cho thấy hệ số độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha của các nhóm biến quan sát đều > 0,6; các biến quan sát đều có tương quan biến - tổng (Corrected Item - Total Correlation) lớn hơn 0,3. Điều này cho thấy các câu hỏi trong bộ công cụ có mức độ tương quan chặt chẽ và cùng phản ánh khái niệm nghiên cứu về nhận thức của cán bộ, công chức đối với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”.

Để đánh giá mức độ nhận thức của cán bộ, công chức về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”, nghiên cứu này tính điểm trung bình cho các nhóm chỉ báo đo lường hiểu biết, niềm tin và thái độ. Đối với cấu phần hiểu biết, điểm số được xác định thông qua các câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Mỗi câu trả lời đúng được quy đổi thành 5 điểm, trong khi mỗi câu trả lời sai được quy đổi thành 1 điểm. Điểm trung bình của cấu phần hiểu biết được tính trên cơ sở tổng điểm trung bình đạt được của người trả lời. Đối với các cấu phần niềm tin và thái độ, nghiên cứu sử dụng các biến quan sát được thể hiện dưới dạng các nhận định phản ánh quan điểm, sự đánh giá và mức độ đồng thuận của cán bộ, công chức đối với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”. Người trả lời lựa chọn mức độ đồng ý đối với từng nhận định theo thang đo Likert 5 bậc, từ (1) Hoàn toàn không đồng ý đến (5) Hoàn toàn đồng ý. Điểm trung bình của từng cấu phần được xác định trong khoảng từ 1 đến 5, trong đó giá trị càng cao phản ánh mức độ niềm tin và thái độ càng tích cực đối với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”. Ngược lại, điểm trung bình càng thấp phản ánh mức độ nhận thức còn hạn chế hoặc chưa thật sự đồng thuận đối với cơ chế này (Bảng 2).

Bảng 2: Phân loại mức độ nhận thức của cán bộ, công chức theo thang đo

2.2. Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu

Số liệu được sử dụng trong bài viết lấy từ kết quả điều tra của đề tài Thực hiện mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ” trên địa bàn thành phố Cần Thơ do tác giả thực hiện năm 2026. Mẫu nghiên cứu là 525 cán bộ, công chức cấp xã được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện (Bảng 3).

Để kiểm định mối quan hệ giữa các thành phần nhận thức, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính. Trong đó: mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến được áp dụng để xem xét ảnh hưởng của mức độ hiểu biết đến niềm tin; mô hình hồi quy tuyến tính bội được sử dụng trong nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của hai biến độc lập là “Hiểu biết” và “Niềm tin” đến biến phụ thuộc “Thái độ” của cán bộ, công chức. Mô hình được biểu diễn như sau: “Thái độ = β0 + β1 (Hiểu biết) + β2 (Niềm tin) + ε”. Trong đó, β0 là hằng số hồi quy, phản ánh giá trị kỳ vọng của biến “Thái độ” khi các biến độc lập bằng 0; β1 và β2 lần lượt là hệ số hồi quy thể hiện mức độ và chiều hướng tác động của biến “Hiểu biết” và “Niềm tin” đến biến “Thái độ”; ε là sai số ngẫu nhiên phản ánh các yếu tố khác chưa được đưa vào mô hình. Kết quả phân tích, xử lý số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0.

3. Kết quả và thảo luận

Thành phố Cần Thơ sau sắp xếp là đô thị loại I trực thuộc Trung ương, nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên 6.360,83 km², dân số khoảng 4.199.824 người; dân tộc thiểu số chiếm 15,46%. Thành phố có 103 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 31 phường, 72 xã (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Tính đến thời điểm 31/5/2026, đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp thành phố là 2.513 người, ở cấp xã có 8.464 người. Trong đó, cán bộ, công chức cấp xã có trình độ đại học trở lên chiếm tỷ lệ 97,72%; trình độ trung và cao cấp lý luận chính trị chiếm tỷ lệ 55,94% (Bảng 4). Đây là lực lượng trực tiếp tham gia vận hành hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp sau sắp xếp.

Nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của nền công vụ. Đây không chỉ là nền tảng định hướng hành vi của cán bộ, công chức, mà còn là cơ sở để đội ngũ này vận dụng đúng đắn các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước vào quá trình thực thi nhiệm vụ. Qua kết quả phân tích, đánh giá nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ” cho thấy:

Thứ nhất, cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ nhận thức tương đối tốt về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ có hiểu biết tương đối đầy đủ, niềm tin khá vững chắc và thái độ tích cực đối với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”: điểm trung bình chung đánh giá nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã là 3,8 điểm trên thang điểm 5 (Bảng 5). Theo thang đo phân loại nhận thức (ở Bảng 2), mức điểm này thuộc nhóm nhận thức tốt nằm trong khoảng (từ 3,41 đến 4,20 điểm). Độ lệch chuẩn của các biến dao động từ 0,4 đến 1,3 cho thấy dữ liệu có mức độ phân tán từ thấp đến tương đối cao. Phần lớn các biến có độ lệch chuẩn dưới 1,0 phản ánh mức độ đồng thuận tương đối giữa các đối tượng khảo sát, trong khi một số biếncó độ lệch chuẩn cao hơn thể hiện sự phân hóa nhất định trong nhận thức. 

Nhìn chung, dữ liệu có mức biến thiên phù hợp, đáp ứng yêu cầu của các phân tích thống kê suy luận tiếp theo. Kết quả điểm đánh giá theo từng cấu phần nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ như sau:

(1) Thái độ là cấu phần đạt điểm cao nhất với điểm trung bình 4,0 điểm. Điều này cho thấy cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ có sự đồng thuận cao đối với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”, đồng thời thể hiện tinh thần trách nhiệm và sự sẵn sàng tham gia vào quá trình nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế. Trong các nhóm chỉ báo của cấu phần thái độ, chỉ báo “sẵn sàng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện” đạt điểm cao nhất với (4,1 điểm), tiếp đến là “trách nhiệm trong thực thi công vụ” (4,0 điểm) và “ủng hộ nguyên tắc vận hành hệ thống chính trị” (3,9 điểm). Kết quả này cho thấy thái độ của đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ dừng lại ở sự đồng thuận về mặt nhận thức mà còn thể hiện ở ý thức trách nhiệm và tinh thần chủ động trong thực tiễn công tác.

(2) Hiểu biết là cấu phần có điểm cao thứ hai, với điểm trung bình 3,8 điểm, điều đó cho thấy cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ có hiểu biết tương đối tốt về cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Trong đó, mức độ hiểu biết về vị trí, vai trò của các nhóm chủ thể đạt 4,1 điểm, cho thấy phần lớn cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ hiểu biết khá rõ về vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, điểm đánh giá mức độ hiểu biết về cơ chế vận hành chỉ đạt 3,6 điểm, thấp hơn đáng kể so với nhóm chỉ báo còn lại. Điều này cho thấy mặc dù cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ nắm tương đối rõ vai trò của các chủ thể, nhưng mức độ hiểu biết về cách thức phối hợp, tương tác và vận hành cụ thể giữa các chủ thể trong thực tiễn vẫn còn những hạn chế nhất định.

(3) Niềm tin là cấu phần có điểm trung bình thấp nhất trong ba cấu phần đánh giá nhận thức, đạt 3,7 điểm. Trong các nhóm chỉ báo, niềm tin vào năng lực của các chủ thể đạt điểm cao nhất (4,1 điểm), phản ánh sự đánh giá tích cực của cán bộ, công chức đối với khả năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong cơ chế. Trong khi đó, niềm tin vào hiệu quả lãnh đạo của Đảng đạt 3,7 điểm, niềm tin vào lợi ích của việc thực hiện cơ chế đạt 3,6 điểm và đặc biệt niềm tin vào hiệu quả quản lý nhà nước chỉ đạt 3,4 điểm, nằm ở ngưỡng trên của mức nhận thức trung bình nghiêng về mức chưa thật sự tin tưởng. Điều này cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ chưa thực sự đánh giá cao hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như xây dựng tổ chức bộ máy, phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh; giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Khi được hỏi “Ông/bà đồng ý ở mức độ nào với các nhận định sau đây về việc triển khai chương trình/chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã/phường trong giai đoạn từ năm 2025 trở lại đây”, có một tỷ lệ đáng kể cán bộ, công chức cấp xã đồng ý hoặc rất đồng ý với các nhận định như: “Một số chính sách giảm nghèo còn mang tính hỗ trợ ngắn hạn, chưa tạo được sinh kế bền vững cho người dân. Việc xác định đối tượng thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội, đôi khi chưa thật sự chính xác; một số chính sách hỗ trợ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế của các nhóm đối tượng thụ hưởng” (Bảng 6). 

Số liệu được trình bày tại Bảng 6 cho thấy đa số cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ tham gia nghiên cứu chỉ ra rằng quy trình triển khai chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương vẫn còn tồn tại một số “nút thắt” nhất định cần tiếp tục được khắc phục. Cụ thể, có 62,1% cán bộ, công chức cấp xã đồng ý và 14,1% rất đồng ý với nhận định rằng: “Một số chính sách giảm nghèo còn mang tính hỗ trợ ngắn hạn, chưa tạo được sinh kế bền vững cho người dân”. Kết quả này cho thấy phần lớn cán bộ, công chức cấp xã tham gia khảo sát đánh giá các chính sách giảm nghèo hiện nay vẫn còn những hạn chế nhất định về tính bền vững, chủ yếu tập trung vào hỗ trợ trước mắt mà chưa tạo được nền tảng sinh kế lâu dài để người dân có thể tự vươn lên thoát nghèo một cách ổn định.

Bên cạnh đó, cán bộ, công chức cấp xã cũng chỉ ra một số hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội. Trước hết, đa số người được khảo sát cho rằng việc xác định đối tượng thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội đôi khi chưa thực sự chính xác, dẫn đến nguy cơ bỏ sót hoặc hỗ trợ chưa đúng đối tượng. Đồng thời, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội 82 cũng được đánh giá còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đồng ý và rất đồng ý ở mức cao đối với các nhận định này cho thấy cán bộ, công chức nhận thức khá rõ những khó khăn trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội ở cấp cơ sở sau sáp nhập.

Đáng chú ý, hơn 50% cán bộ, công chức đồng ý và trên 12% rất đồng ý với nhận định rằng một số quyết định quản lý chưa thực sự bám sát các quy định của pháp luật cũng như điều kiện thực tiễn của địa phương. Kết quả này phản ánh khoảng cách nhất định giữa yêu cầu của chính sách với thực tiễn quản lý và tổ chức thực hiện. Tương tự, tỷ lệ đồng ý và rất đồng ý đối với nhận định “Vẫn còn tình trạng chậm xử lý hoặc xử lý chưa dứt điểm các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế - xã hội” cũng ở mức cao, cho thấy hiệu lực thực thi pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm của các cơ quan thực thi nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và hiệu quả quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội.

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu này cho thấy cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ có thái độ tích cực với nguyên tắc vận hành của hệ thống chính trị, có ý thức trách nhiệm cao trong thực thi công vụ, đồng thời cho biết sự sẵn sàng tham gia đóng góp và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế trong thực tiễn. Điều này phản ánh đúng thực tế qua một năm vận hành chính quyền địa phương hai cấp ở thành phố Cần Thơ, các cấp ủy cấp xã từng bước phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo trực tiếp ở cơ sở; chính quyền cấp xã tiếp nhận, xử lý khối lượng nhiệm vụ lớn hơn, nhất là trong giải quyết thủ tục hành chính, quản lý địa bàn, an sinh xã hội, đất đai, xây dựng, tư pháp - hộ tịch; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục duy trì công tác tuyên truyền, vận động, nắm tình hình Nhân dân, giám sát và phản biện xã hội. Hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã bước đầu tạo chuyển biến trong phục vụ người dân, doanh nghiệp theo hướng gần dân hơn, công khai, minh bạch hơn; tuy nhiên, hiệu quả vận hành giữa các địa bàn chưa đồng đều, nhất là ở những xã, phường có quy mô lớn, địa bàn rộng, khối lượng hồ sơ nhiều, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng số và năng lực cán bộ chuyên môn còn khác nhau (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Mặt khác, điểm đánh giá niềm tin vào hiệu quả của việc vận hành cơ chế thấp hơn so với hai cấu phần đánh giá nhận thức cho thấy cán bộ, công chức cấp xã đã thẳng thắn nhận diện một số hạn chế còn tồn tại trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách. Nổi bật là các vấn đề liên quan đến tính bền vững của chính sách giảm nghèo, mức độ chính xác trong xác định đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội, cũng như mức độ phù hợp giữa chính sách và nhu cầu thực tiễn. Kết quả nghiên cứu này cho thấy hạn chế trong năng lực tổ chức thực thi chính sách có tác động trực tiếp đến niềm tin chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Phát hiện này phù hợp với lý thuyết hiệu quả thể chế và tương thích với quan điểm về vai trò của hiệu quả và chất lượng dịch vụ công trong việc duy trì sự tin tưởng của các chủ thể trong hệ thống công quyền theo lý thuyết quản lý công mới.

Thứ hai, các cấu phần trong nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ” không tồn tại tách biệt mà có mối quan hệ tương hỗ, tác động thuận chiều và bổ trợ lẫn nhau. Trong đó, mức độ hiểu biết về cơ chế này có vai trò quan trọng trong việc hình thành và củng cố niềm tin và thái độ của cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ.

Số liệu tại Bảng 7 cho thấy hiểu biết đóng vai trò là nhân tố tác động tích cực đến niềm tin của cán bộ, công chức; hệ số hồi quy mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê, khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ thuận chiều giữa hai biến số. Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa (B) đạt 0,600 với mức ý nghĩa Sig. = 0,000 (< 0,05), khẳng định mối quan hệ có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%. Điều này cho thấy khi mức độ hiểu biết tăng thêm 1 đơn vị thì niềm tin trung bình của cán bộ, công chức tăng tương ứng 0,600 đơn vị, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Hệ số Beta chuẩn hóa đạt 0,748 phản ánh mức độ tác động tương đối mạnh của hiểu biết đối với niềm tin.

Bên cạnh đó, thái độ ủng hộ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ với việc thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ” có mối quan hệ thuận chiều với hiểu biết và niềm tin (Bảng 8).

Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy cả hai biến hiểu biết và niềm tin đều có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến thái độ của cán bộ, công chức. Cụ thể, biến hiểu biết có hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa B = 0,066 và hệ số hồi quy chuẩn hóa β = 0,060 (Sig. = 0,008), cho thấy khi mức độ hiểu biết tăng thêm một đơn vị thì thái độ tăng trung bình 0,066 đơn vị trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Mặc dù tác động này có ý nghĩa thống kê, nhưng mức độ ảnh hưởng tương đối thấp. Trong khi đó, biến niềm tin có hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa B = 1,214 và hệ số hồi quy chuẩn hóa β = 0,892 (Sig. < 0,001), cho thấy niềm tin có tác động thuận chiều rất mạnh đến thái độ. Điều này có nghĩa là khi niềm tin tăng thêm 01 đơn vị thì thái độ tăng trung bình 1,214 đơn vị. So sánh hệ số hồi quy chuẩn hóa cho thấy mức độ ảnh hưởng của niềm tin lớn hơn rất nhiều so với hiểu biết. Phương trình hồi quy cụ thể có dạng: “Thái độ = −0,729 + 0,066 (Hiểu biết) +1,214 (Niềm tin) + ε”.

Kết quả này hàm ý rằng mặc dù hiểu biết là điều kiện cần để hình thành nhận thức, song chính niềm tin mới là yếu tố có vai trò quyết định trong việc hình thành thái độ tích cực của cán bộ, công chức. Đồng thời, kết quả trên cũng phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa các cấu phần của nhận thức, trong đó hiểu biết góp phần củng cố niềm tin và niềm tin tiếp tục tác động mạnh mẽ đến thái độ của cán bộ, công chức đối với vấn đề được nghiên cứu. Như vậy, trong cấu trúc nhận thức của cán bộ, công chức, niềm tin đóng vai trò là nhân tố trung tâm và là cầu nối quan trọng giữa hiểu biết và thái độ, góp phần chuyển hóa nhận thức thành những đánh giá và khuynh hướng hành động tích cực.

4. Kết luận và khuyến nghị

Việc sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp đã làm gia tăng quy mô quản lý và tính phức tạp trong thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cấp cơ sở. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn vướng ở vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh, chế độ chính sách và cơ chế bố trí sau sắp xếp. Chế độ tiền lương, phụ cấp đối với một số chức danh, vị trí việc làm thay đổi sau sắp xếp chưa được quy định đầy đủ. Việc tăng cường cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phó về cấp xã còn vướng giữa yêu cầu thực tiễn và khung số lượng chức danh hiện hành; khung số lượng cấp phó, phòng chuyên môn và chức danh lãnh đạo, quản lý cấp xã chưa được điều chỉnh tương ứng đối với xã, phường có quy mô lớn, địa bàn rộng, nhiệm vụ phức tạp. Do đó, việc điều động, bố trí cán bộ tăng cường có nơi còn mang tính chuyển tiếp, chưa tạo được cơ chế ổn định lâu dài (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Trong bối cảnh đó, nghiên cứu nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là nền tảng định hướng hoạt động thực thi công vụ, mà còn là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân sau sáp nhập.

Số liệu từ điều tra định lượng với mẫu nghiên cứu là 525 cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ năm 2026 cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có nhận thức tương đối tốt về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trên cả ba cấu phần: hiểu biết, niềm tin và thái độ. Đa số cán bộ, công chức cấp xã tham gia khảo sát nắm vững vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của Nhân dân, đồng thời đồng thuận với việc vận hành cơ chế này tại địa phương. Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ, công chức vẫn chưa hiểu sâu về phương thức vận hành và mối quan hệ giữa các chủ thể, đặc biệt là các nội dung về phát huy dân chủ, giám sát xã hội và trách nhiệm giải trình của chính quyền cơ sở.

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy mức độ hiểu biết ảnh hưởng tích cực có ý nghĩa thống kê đến niềm tin; đồng thời cả hai yếu tố này đều tác động thuận chiều đến thái độ của cán bộ, công chức. Trong đó, niềm tin có hệ số tác động mạnh hơn đáng kể so với hiểu biết. Phát hiện này minh chứng nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã không chỉ là sự tích lũy tri thức thuần túy mà mang tính cấu trúc bao hàm cả yếu tố niềm tin và thái độ, trong đó niềm tin đóng vai trò trung gian cốt lõi giúp chuyển hóa tri thức thành thái độ, hành vi trong hệ thống chính trị. Từ kết quả thực chứng về mô hình tác động tuyến tính giữa ba cấu phần nhận thức, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ” trong thời gian tới:

Một là, nâng cao hiểu biết thông qua đổi mới nội dung và phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở. Thành phố Cần Thơ tiếp tục đa dạng hóa các phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã phù hợp với đặc thù địa phương sau sáp nhập. Nội dung bồi dưỡng cần chuyển mạnh từ trang bị lý luận thuần túy sang gắn kết với thực tiễn quản lý; chú trọng củng cố niềm tin của cán bộ, công chức cấp cơ sở vào chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, vận hành chính quyền địa phương hai cấp; làm rõ phương thức vận hành, mối quan hệ giữa các chủ thể trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”, trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát xã hội ở cơ sở.

Hai là, củng cố niềm tin chính trị thông qua việc nâng cao năng lực tổ chức thực thi chính sách và chất lượng dịch vụ công. Do niềm tin đóng vai trò trung gian cốt lõi và chịu tác động trực tiếp bởi năng lực quản lý hành chính. Vì thế, chính quyền cấp xã thành phố Cần Thơ cần chuẩn hóa quy trình thực hiện chính sách, giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công để duy trì sự tin tưởng của các chủ thể trong hệ thống. Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ cần tăng cường các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, thảo luận tình huống thực tế nhằm giúp cán bộ, công chức cấp xã làm chủ phương thức giải quyết các bài toán quản lý phức tạp phát sinh sau sáp nhập, từ đó chuyển hóa hiệu quả thực thi thành niềm tin chính trị vững chắc.

Ba là, thúc đẩy thái độ ủng hộ và trách nhiệm công vụ. Trên nền tảng tri thức vững chắc và niềm tin chính trị được củng cố, thành phố Cần Thơ cần xây dựng các cơ chế khuyến khích, tạo động lực để cán bộ, công chức chuyển hóa nhận thức thành thái độ tích cực và hành vi chuẩn mực. Điều này đòi hỏi việc hoàn thiện thể chế thi đua - khen thưởng, nâng cao tính công khai, minh bạch và gắn trách nhiệm giải trình của cá nhân trong quá trình thực thi công vụ và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân tại cơ sở. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên không chỉ nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thành phố Cần Thơ, mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự vận hành ổn định, hiệu lực và hiệu quả vận hành cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” của hệ thống chính trị cơ sở ở thành phố Cần Thơ trong bối cảnh mới. 

Tài liệu tham khảo

  1. Bullock, J. G., & Rader, K. (2020). Response options and the measurement of political knowledge. British Journal of Political Science, 52, 1418–1427. https://doi. org/10.1017/S0007123421000120
  2. Carstens, J. (2023). Unpacking political trust: A review of conceptualisations, determinants, and consequences. French Politics, 21, 295–314. https://doi.org/10.1057/ s41253-023-00220-5
  3. Don S. Lee. (2023). Determinants of local civil servants’ perceptions of intergovernmental tensions: Experimental evidence from Korea. Public Performance & Management Review, 46(5), 1113–1144. https://doi.org/10.1080/15309576.2023.2193176
  4. Fritjof Capra. (2017). Những mối quan hệ tiềm ẩn (Nguyễn Nguyên Hy dịch). Nhà xuất bản Tri Thức.
  5. Proszowska, D., Jansen, G., & Denters, B. (2022). On their own turf? The level-specificity of political trust in multilevel political systems. Acta Polit, 57, 510–528. https://doi.org/10.1057/s41269-021-00206-7
  6. Sofia Vidotto, Rebecca Weitz-Shapiro, & Matthew S. Winters. (2024). Political knowledge in the context of changing institutions. American Journal of Political Science. https://doi.org/10.1177/10659129241289600
  7. Thành ủy Cần Thơ. (2026). Báo cáo sơ kết 01 năm vận hành hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị thành phố, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Cần Thơ.
  8. Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. (2005). Giáo trình Triết học Mác - Lênin: Phần chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nhà xuất bản Lý luận chính trị.

Bài đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị số 04(52)-2026